NGUYỄN VĂN NAM

  • Dấu chân qua vùng thơ ấu

    Mai em nhé! Anh đưa em về Quảng Gặp tuổi thơ đã mù xa năm tháng Uống giọt sương khi bình minh ló rạng Ai chợt gọi tên mình: Răng đi dữ rứa mi...!

  • Nửa đời nhặt bụi trần gian

    Mười năm, sau nữa...trò ơi ! Mười năm rũ bỏ rong chơi bến bờ... Thả hồn gọi mãi tuổi thơ Nhìn viên phấn trắng bạc phơ mái đầu

  • Quê hương mãi chốn đi về

    Ta về tìm nhặt ấu thơ Giữa đồng rơm rạ sương mờ dần sang Ta về tìm giữa mênh mang Bóng ai như thể bóng làng xa xa...

  • Một lần nợ cả mai sau...

    Người đem thế giới ngâm vào rượu. Ta lấy càn khôn nướng thế mồi

MÒN

VỀ THÔI

MỪNG TÂN GIA

LẠC BƯỚC THIÊN THAI

LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC

LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC

             
Buổi đầu ngắm núi nhìn sông
Chim không chỗ đậu người không chốn nằm
Tầng sâu còn dấu mìn bom
Một vùng giải phóng…tối tăm đất trời
Nhìn nhau biết tính sao đây?
Lòng không, đất trắng, đổi đời được chăng?
Sẵn sàng một nắng ba sương
Giọt mồ hôi Đảng, ngàn vàng khó dân!
Tìm đâu vậy một sức xuân
Sâu trong lòng đất vì dân hết mình
Đôi tay trắng một vùng xanh
Xóm làng ngói đỏ, ngọt lành tiếng chim
Gái khoe giữa tuổi trăng rằm
Hai mươi, hăm mốt tấn năm quyết lòng
Đất người vương vấn vấn vương
Đất cho vô tận người thương khôn cùng
Thắm lòng chia vị lòn bon
Chè tay ai hái ngát hương An Bằng
Đã lên Đại Phước, Đại Đồng
Khó quên thế núi, dạng sông, tình người.
=Lưu Trọng Lư-1983=
SUỐI MƠ-ĐẠI LỘC



VUN LẠI NHỮNG MẦM XANH


VUN LẠI NHỮNG MẦM XANH


=Dương Văn Sương=

          Xuân này-2015, cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm ngày Bắc Nam sum họp, gia đình đoàn viên, đất nước nở hoa độc lập. Trong ngày vui này, bao hoài niệm buồn, vui và nỗi nhớ! Đối với Đại Thạnh, trong tâm thức của của bao người quên sao được những ngày gồng gánh, “tay bồng em, cháu dắt bà” từ các khu dồn của địch, về làng xưa, chốn cũ, trước mắt là cảnh không đường, không vườn, không nhà, không bóng cây, nhìn nơi đâu cũng “loan lổ hố bom”, “đạn cày, bom xới”, cây cối tiêu điều, xơ xác bởi đạn pháo, chất độc hóa học, khiến ai cũng phải chạnh lòng:


                                        Buổi đầu ngắm núi nhìn sông
                              Chim không chỗ đậu người không chốn nằm
                              Tầng sâu còn dấu mìn bom
                              Một vùng giải phóng…tối tăm đất trời
                              Nhìn nhau biết tính sao đây?

(trích LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC-Lưu Trọng Lư)



          Nhưng! Không chùn bước. Chi bộ Đảng, chính quyền, cùng Nhân dân bắt tay vào cuộc chiến mới không kém phần cam go và quyết liệt: khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương. Trước hết khẩn trương giúp nhau dựng lều trại để ở, khai thông đường sá, phá gỡ bom mìn, khai hoang đất đai, tổ chức sản xuất, chăm lo cuộc sống của hàng nghìn người dân về lại quê nhà sau bao nhiêu năm ly tán. Công việc chồng lên công việc, song ai nấy đều không tính toán thiệt hơn. Hàng trăm lao động thay phiên nhau vào rừng đốn cây, cắt tranh về làm trường học cho con em kịp bước vào năm học mới; xây dựng trạm y tế sơ cứu, chữa bệnh cho nhân dân; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác “đền ơn đáp nghĩa” được triển khai kịp thời bằng việc xác lập hồ sơ chính sách thương binh, liệt sỹ, người có công giúp đỡ cách mạng; đồng thời tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ từ rừng núi, khe suối… về với dân làng. 



CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH
          Sau bao ngày thấm đẫm mồ hôi vật lộn với ruộng vườn, tình người và đất Đại Thạnh đã đơm hoa, kết trái. Khắp nơi, cây cối, đồng ruộng tốt, khoai sắn đầy nhà. Ai ai cũng tràn ngập niềm vui khi ăn bữa cơm đoàn tụ với khoai, sắn ngọt bùi do chính mình canh tác nơi chôn nhau, cắt rốn! Khi Đảng chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, Nhân dân Đại Thạnh hưởng ứng sôi nổi góp ruộng đất làm tư liệu sản xuất, góp cổ phần bằng tiền mua sắm 16 bộ máy nước, các dụng cụ sản xuất, Đào đắp hàng chục ki lô mét kênh mương dẫn nước từ hệ thống máy nước lắp đặt ở sông Thu Bồn và Khe Cát lên đồng ruộng. Đáng ghi nhận là được sự giúp đỡ của huyện, Đảng bộ, chính quyền và bà con xã viên quyết tâm xây dựng các đập thủy lợi như: đập Hóc Lách tưới cho cánh đồng An Bằng, đập Hố Chình tưới cho cánh đồng Thạnh Phú, Nam Phước…. Đây là giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề nước tưới cho những cánh đồng “treo”,mà quanh năm ngong ngóng “chờ trời”. Mặc dù thiếu thốn trăm bề nhưng bằng nghị lực bền bỉ, những đôi bàn tay chai sạm, bờ vai gầy vẫn hăng say đào đắp hàng nghìn mét khối đất, đá ngăn dòng, tích nước tưới cho cả trăm héc ta đất. Và, sau bao ngày chờ đợi, “hôm nay, nước đã về đồng”. Những vụ mùa trắng tay, bữa ăn hằng ngày “cõng sắn, cõng khoai” lùi vào dĩ vãng. Gần 30 năm trôi qua, ký ức về các công trình thủy lợi ngày nào vẫn còn tươi nguyên nơi tâm thức bao người. Và hôm nay, tuy công trình thủy lợi Khe Tân đã và đang mang lại sự ấm no, giàu có cho cả vùng B Đại Lộc nhưng đập Hóc Lách và đập Hố Chình vẫn là "vị cứu tinh" cho những cánh đồng “bậc cao” của Đại Thạnh, Đại Chánh, Đại Tân. (*)

         
TRƯỜNG THCS LÝTHƯỜNG KIỆT-ĐẠI THẠNH
 Nhớ lại những năm 80 của thế kỷ trước, phong trào thi đua yêu nước ở Đại Thạnh được phát động sâu rộng trong các tầng lớp Nhân dân. Chuyện nhà, chuyện làng, việc nước đều được gắn với các hoạt động thi đua. Đội thiếu niên mang tên Bác “làm nghìn việc tốt” thi đua nỗ lực trong học tập, lao động xây dựng trường lớp, làm phân xanh bón ruộng. Gắn phong trào “toàn dân làm thủy lợi”, Hội Nông dân và Hội Phụ nữ phát động hội viên hăng say lao động nạo vét sông Quảng Huế, đưa nước lên trạm bơm Đại An. Đoàn viên, thanh niên tình nguyện xung kích lên đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngại khó, ngại khổ, những “thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh” trở thành kiện tướng lao động trên đại công trường thủy lợi Phú Ninh. Ở chiến hào bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, nhiều người được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang… Có những người đã anh dũng ngã xuống nơi biên cương vì Độc lập, Tự do của dân tộc. Tất cả sự cống hiến, hy sinh đó ngời sáng mãi tinh yêu quê hương, đất nước. Người ở lại hậu phương, kiên trì bám ruộng đồng, bám phong trào. Có thêm nhiều người từ nơi khác tình nguyện lên giúp xã khai hoang, dạy chữ cho học sinh được Đại Thạnh xem như người một nhà khiến các anh, chị luôn cảm thấy ấm lòng, tăng thêm nghị lực để tiếp tục cống hiến và xem nơi đây như là quê hương thứ hai của mình: 

          “Chưa lên Đại Thạnh thì run 
          Đã lên Đại Thạnh (muốn) ở luôn không về!” 

          Tròn 35 năm gắn bó với nghề, cô giáo Phạm Thị Thiếu Vôn - nguyên Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Nho Túy trải lòng: “Bước chân đầu tiên lên bờ đất Bến Dầu lạ lẫm để vào miền đất Đại Thạnh xa xuôi, cằn cỗi hoang vu đầy cỏ dại. Ngày mới giải phóng, nơi đây quả là khó khăn thiếu thốn dễ làm nản lòng những cô gái trẻ từ thành phố lên. Nhưng với tôi thì không. Đời sống khổ cực của giáo viên bên cạnh dân làng tại đây đã cho tôi thấy được cái đằm thắm của tình người và ý nghĩa của cuộc sống”.
TRƯỜNG MẪU GIÁO ĐẠI THẠNH
         
 Bước vào thời kỳ đổi mới, đặt biệt từ khi Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 06(tháng 5/1989). Nhận thức đây là một chủ trương mang tính đột phá cho phát triển nông nghiệp, Đại Thạnh kịp thời tổ chức giao đất sản xuất cho hộ gia đình, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa. Thời gian sau đó, xã tập trung khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp (4.917ha), tổ chức giao rừng đến nhóm hộ và hộ để khoanh nuôi bảo vệ, trồng rừng. Thực hiện dự án trồng rừng bền vững KFW6; rừng nguyên liệu giấy phủ xanh đất trống, đồi trọc, góp phần cân bằng hệ sinh thái, đồng thời nâng cao mức sống người dân… Cùng với phát triển nông- lâm nghiệp, Đại Thạnh còn tập trung vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp đến địa bàn sản xuất kinh doanh. Điển hình là Công ty may mặc Phú Hòa ở Đà Nẵng xây dựng phân xưởng may mặc ở thôn Tây Lễ, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương; Công ty TNHH xây dựng Hữu Thái đang đầu tư, xây dựng Cụm thương mại dịch vụ Bến Dầu với diện tích 6 ha (theo hồ sơ thiết kế, nơi đây xây mới chợ Bến Dầu đạt chuẩn tiêu chí chợ nông thôn mới, ngoài ra còn các công trình dân sinh, phúc lợi xã hội: Trạm y tế, nhà văn hóa, bến xe, khu vui chơi giải trí cho trẻ em, cùng với đó là khu dân cư mới bố trí theo ô bàn cờ vuông vức, bên những con đường bê tông rộng phẳng, đây sẻ là điểm nhấn trong bước đường xây dựng nông thôn mới từ nay đến năm 2020. 


MÔ HÌNH NUÔI CÁ DIÊU HỒNG TRÊN LÒNG HỒ KHE TÂN
         
TRÀN XẢ LŨ HỒ KHE TÂN
 
Một thời, Đại Thạnh địa hình không khác gì là ốc đảo, tuyến đường bộ gần như độc đạo nắng thì bụi, mưa lầy. Nay, diện mạo làng quê từng ngày “thay da đổi thịt”. Hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi. Bên cạnh nguồn lực Nhà nước đầu tư hai tuyến đường ĐH và hai cây cầu nối liền Đại Thạnh với các xã Đại Thắng, Đại Chánh. Các con đường ĐX của xã được cứng hóa và chạy khắp các thôn cùng, ngõ hẻm bằng nguồn lực huy động từ trong nhân dân, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế- xã hội của Đại Thạnh. 

Đời sống nhân dân luôn được phát triển, trong 5 năm qua hộ nghèo giảm bình quân 4%/ năm, cuối năm 2014 còn 16%. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được đầu tư mạnh mẽ, cơ sở vật chất trường lớp ngày càng khang trang, chất lượng giáo dục được nâng lên đáng kể. Những năm gần đây, xã có hàng trăm học sinh giỏi cấp huyện. Góp sức cùng huyện có 11 học sinh giỏi cấp tỉnh ở bậc trung học cơ sở, 9 em vào trường trung học phổ thông chuyên bắc Quảng Nam. Ba cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đều đạt chuẩn quốc gia.

        
CHIỀU KHE TÂN
Nhìn lại thành quả 40 năm “trồng người”, Đại Thạnh cũng góp phần cho đất nước hàng trăm nhân lực có chất lượng cao vào công cuộc kiến thiết Nước nhà; Đó là: những công nhân lành nghề, kỹ sư, bác sỹ, nhà giáo, nhà văn, nhà khoa học họ có mặt ở mọi miền Tổ quốc. Và bao người... vẫn ngày đêm bền bĩ đúc “viên gạch hồng” xây dựng quê hương. Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân đạt nhiều thành tựu, góp phần nâng cao được thể chất, sức khỏe mọi người. Đời sống kinh tế-xã hội không ngừng được cải thiện, nhà nào cũng có xe máy, phương tiện nghe nhìn, gia đình khá giả hơn đã sắm được ô tô tải, máy gặt đập liên hợp, xe du lịch… Cuộc sống mới đang về mà cứ ngỡ như trong mơ!

          Bốn mươi năm, quãng đường kiến thiết quả không dài đối với Đại Thạnh-quê hương Anh hùng, có bề dày về truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng. Những thành quả mà mảnh đất, con người Đại Thạnh có được là minh chứng sinh động cho lòng yêu nước thiết tha và ý chí, nghị lực hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hương từ đống hoang tàn đổ nát.
Xuân mới, sức sống mới, màu xanh mới tràn đầy niềm tin yêu !
D.V.S
--------------
(*) Nay là xã Đại Thạnh, xã Đại Chánh và 1 phần của xã Đại Tân.

LẠC KHÚC YÊU THƯƠNG

LỐI VỀ



LỐI VỀ
=Nguyễn Văn Nam=

Bạt ngàn hun hút
Rừng bao la
Đồi dốc điệp trùng
Lởn vởn ảo mờ trên những triền thung
Ngọn lá lung lay
Chợt lòng xao động
Ông gọi vô hồn...khoảng không gió lộng
Nhón mở ba lô…
Đồng đội mất còn…?
Đêm hữu tình
Tìm thực tại chốn điêu linh
Nhật ký mang theo
Nguệch ngoạc hành trình giao liên Huyện đội
Trải qua Dốc Gió, Y10
B2 từng bữa cõng gùi
Bao nơi nữa…ghi một thời quân nhân
Lửa chiến trường
Nam-Trung-Bắc đâu phân
Rau luộc Trường Sơn
Mặn nghĩa tình đồng chí…
Lán lá vừa xanh
Chia hơi choàng vải mỏng toanh
Gối súng nằm chung
“Tôi-anh và đồng đội mình đấy nhỉ!”…
Qua rồi khói lửa chiến chinh
Về quê thao thức lòng mình
Mờ tỏ trong đêm
Bóng anh em đa phần mạn Bắc…
Mấy mươi năm
Từng bước chân thầm nhắc
Trở lại Trường Sơn
Với ba lô và hành trang vụn vặt
Gom ký ức giao liên
Tìm cố nhân…
Quê mẹ…lối về…!

CÒN CHÚT QUÊ TRÊN PHỐ



CÒN CHÚT QUÊ TRÊN PHỐ
=Nguyễn Văn Nam=

Mấy ngàn năm
Vẫn cứ làng quê
Doi đất
Triền sông
Bãi làng bồi lở…
Rặng tre xanh
Soi bóng long lanh…
Ru hời người quê dập dờn nỗi nhớ
Cánh cò uốn lượn ca dao
Nôn nao tiềm thức…đi…về…
Thản nhiên thời cuộc
Phố phường không mọc sớm mai
Như mặt trời hừng đông
Quy luật!
Ai giữ lại cho mình
Ngày mẹ cha tất bật
Vã mồ hôi ướt vế gàu sòng…
Nhà cao phố rộng
Át cả đồng làng lỡ nhịp bon chen
Ta bước đi dưới vạn ánh đèn
Chợt lẻ loi…nhớ miền quê rưng rức
Nhận bóng đồng xa
Góc bảo tàng thổn thức
Gàu sòng co ro…vợi về ký ức
Mờ tỏ lòng đèn phố mông lung
Bao nhiêu lớp nhện giăng mùng…!

THÁNG CHẠP



THÁNG CHẠP
=Sông Hương=

Tháng chạp
Đàn sếu chở mùa thiên di
Chân ruộng quê mình lênh loang nước
Cha gánh phân rãi đồng mưa hắt lạnh bờ đê trơn trượt
Chân trần bấm vào mơ ước
Gió bấc đầu mùa chẳng khô vạt mồ hôi
Tháng chạp
Tiếng hò mẹ ru ấm nhịp tao nôi
Ấm mùa đông buốt giá
Lời ru thơm khói bếp chiều, hương đồng rơm rạ
Thơm vào khúc ca dao
Đi suốt cuộc đời chẳng đến non cao *
Tháng chạp
Mẹ chong đèn đêm thâu ?
Con đi học đường xa về muộn
Thấp thỏm sông quê nước về cuồn cuộn
Thắt lòng rung vạt liếp thưa
Tháng chạp
Bữa cơm nghèo mặn vị mắm dưa
Thấm vào trang vở con qua những mùa giáp hạt
Con biền biệt phương xa, cơm thị thành chẳng làm quên đĩa cà dầm chua chát
Cua đồng thơm bát canh riêu
Tháng chạp
Lưng mẹ còng bước lệch bước xiêu
Nghe thảng thốt chiều nay gió mùa đông bắc
Con chưa về, vạt liếp thưa gió lùa ai thắt giùm nút lạt ?
Cuộc đời là hư vô**, mưa xóay vào câu hát
Trách mình như cánh chim di
Huế 12/1014
* Câu ca dao Lên non mới biết non cao
** Lời bài hát Xin thời gian qua mau của nhạc sĩ Lam Phương

BẾN ĐỜI

BẾN ĐỜI
=Trương Minh Sơn=

Tuổi xuân ngủ vùi…tóc bạc
Hương tình vẫn mãi tươi xanh
Vạt nắng trôi loang chiều tím
Ưu tư mang gửi cánh cò…

Nợ đời vay trả tỉnh say
Hư vô lạc lòng phù phiếm
Lợi danh bóng câu tìm kiếm
Vô thường nhân thế sắc không…

Ánh tà buông lòng đêm rộng
Lạc đường viễn mộng Nam Kha
Dốc đời hành trình xuôi ngược
Bại-thành-được-mất-về đâu…?

Bỏ ngỏ tóc sương điểm bạc
Chân mòn trên bước thời gian
Yêu thương mải mê ngày tháng
Bình yên neo bến…tím chiều…!



TUỔI THU

TUỔI THU
= Trương Minh Sơn=

Nhặt thời gian qua vàng thu vội vã
Năm mươi xuân lắng đọng những nhọc nhằn
Chợt nhận ra tuổi thu trôi nhanh quá
Ta lỡ nhịp đời khập khễnh bóng phù du

Thả lòng mình độc bộ dưới bóng thu
Tìm chút ngây ngô của thời thơ dại
Vân vê nắng hỏi bao giờ trở lại
Nhặt lá rơi gởi lại mối u hoài

Dòng đời miên man thu lạc lối dài
Trên ngõ cũ ai tiếc hoài ngọn gió
Vòng danh lợi ta gởi về ngõ nhỏ

Đếm tuổi thu hay nhịp trái tim mình

VỀ ĐÂU SƠN NỮ

CHẠNH LÒNG MẤY BẬN MỒ CÔI



CHẠNH LÒNG MẤY BẬN MỒ CÔI
=Hiếu Sương=

Bao nhiêu năm con xa nhà trọ học
Gởi yêu thương về thăm mẹ miền quê
Giữa phố đêm lặng lẽ tiếng tàu xe
Ánh trăng rơi hay đèn vàng ảo mộng...

Quãng đường xa mong manh miền gió lộng
Một vệt sao băng trên lối đi về
Lời ầu ơ...man mát những đêm hè
Ru hồn con...chắt chiu từng lời dặn...

Lệ nhạt nhòa khóe mi con đẫm mặn
Lời nhắn ngày nao có kịp giã từ
Mẹ buồn trông...con lặng lẽ ậm ừ...
Gói hành trang ngắm mây chiều lãng đãng

Con trở về bước trong sương chệnh choạng
Mắt bỗng xè cay ướt đẫm mây ngàn
Câu phân ly ai nỡ viết vội vàng
Cho yêu thương giờ muôn trùng cách biệt...?

Mấy năm ròng ngóng trông hoài trang viết
Tâm sự mẹ hiền trên những cánh thư...
Trắng khăn xô...đau đáu đến bao chừ
Con lạc lõng dỗi hờn câu muối mặn....!

Căn nhà xưa giờ bốn bề nến trắng
Trống vắng lòng...nước mắt rơi thầm lặng
Thổn thức tim mình gọi ai nghèn nghẹn
Lại một lần...con trẻ chịu mồ côi...!


Con đã về!...Nhưng vắng mẹ...Mẹ ơi...!

KỲ NHÂN Ở "ĐỘNG MAI VÀNG" ĐẠI LỘC

Kỳ nhân ở "động mai vàng"Đại Lộc

Hơn nửa thế kỷ trước, cây hoàng diệp mai lẻ loi ở xã lân cận được một thanh niên ngoài 20 tuổi làng Ái Mỹ (thị trấn Ái Nghĩa - Đại Lộc) mang về trồng. Sau ngần ấy năm, Ái Mỹ giờ trở thành một "động hoa vàng" của xứ Quảng. Mai Ái Mỹ đã trở thành "thương hiệu", bán hàng nghìn nhánh, gốc cho thị trường Quảng Nam, Đà Nẵng và ra tận thủ đô Hà Nội, thu về tiền tỉ.
“Cúi đầu lạy hoa mai”...
Cụ Bùi Đình Châu, người mang giống mai ở làng bên về trồng dạo nào, nay đã là ông lão 75 tuổi, được tôn xưng là người khai sinh làng mai. Cụ Châu dẫn tôi đi dạo quanh khu vườn nhà rộng gần nghìn mét vuông. Vườn nhà cụ Châu được xem là vườn mai "gốc" của làng Ái Mỹ, thuộc khu 8, thị trấn Ái Nghĩa. Cả khu có hơn 400 hộ dân thì xấp xỉ 300 hộ trồng mai trong vườn nhà. Có vườn chỉ vài chục cây, có vườn thì đếm không xuể: mai rậm cành xanh lá đã hơn ba trăm gốc, độ bảy tuổi thì xấp xỉ bốn trăm cây nữa, còn lại vô số... Đầu tháng chạp, các "thương lái mai" đã dong xe khắp các vườn mai. Con đường đất nhỏ làng Ái Mỹ nối với thị trấn Ái Nghĩa nườm nượp khách vào ra. Nhưng vẫn chưa ai chịu mua, chịu bán thời điểm này vì chẳng biết giá cả rồi sẽ lên xuống thế nào. Đến chừng 20 tháng chạp, người mua mai sớm nhất đã bắt đầu dứt nhánh. Mai Ái Mỹ ra chợ rải rác 2-3 ngày sau. Ai có mối hẹn trước thì thư thả đến sáng 30 mới lên chọn...
"Trồng mai lấy gỗ làm nhà" - phương châm mà anh giáo làng Bùi Đình Châu khi ngoài hai mươi tuổi đã theo đuổi khiến dân làng Ái Mỹ bán tín bán nghi. "Gỗ mai thì làm sao dựng được nhà, mà ý của tui là... bán mai, lấy tiền mua gỗ" - cụ Châu giải thích. Đã có thời cụ Châu đổi một gốc mai đẹp để lấy một cây gỗ mít! Thực ra mai Ái Mỹ nổi tiếng và có giá khoảng 15 năm trở lại đây, khá nhất độ trong vòng 10 năm, tự dưng mai vườn Ái Mỹ hút khách, mà khách chỉ ra vào mỗi vườn cụ Châu. Khi ấy, nhiều người mới "tin" lời cụ Châu, cùng mang mai về trồng, để rồi cái làng mai Ái Mỹ trẻ trung này giờ kín những mai là mai.
Ngày trước, Chu Thần Cao Bá Quát từng có thơ bày tỏ chí khí khảng khái, thanh bạch và cao thượng: "Nhất sinh đê thủ bái mai hoa" (Một đời chỉ chịu cúi đầu lạy hoa mai mà thôi). Người dân làng Ái Mỹ cũng "đê thủ bái mai hoa" nhưng theo cách khác: 85% gia đình nuôi con ăn học đến cao đẳng, đại học là nhờ vào nguồn thu nhập từ mai. Khi tôi đến thăm nhà ông Bùi Đình Bảo, cán bộ Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Đại Lộc thì một vài cây mai ở vườn đã trổ nụ sớm. Theo tính toán của một người làm nông nghiệp, mỗi sào đất vườn dân làng Ái Mỹ trồng chừng ba trăm cây. Sau 7-10 năm, với khoảng hai trăm cây mai bán ra thị trường trung bình năm trăm nghìn đồng mỗi cây đã thu về một trăm triệu đồng rồi. Vị chi mỗi năm một sào đất mai mang về mười triệu đồng. Một ha đất vườn trồng mai thu lợi hai trăm triệu đồng... Nhiều gốc đẹp được khách trả giá vài triệu đồng là chuyện thường. Năm ngoái, một thương lái trả cụ Châu 3 triệu đồng cho một gốc mai, và bán lại cho khách giá 5 triệu đồng sau đó ngay tại vườn này! Vợ chồng cụ Châu gom tiền bán mai mỗi năm một nhiều hơn: năm ngoái đã vài chục triệu đồng...
Nghề đếm lá, thưởng hoa
Giữa những cây mai lớn, hàng cách hàng 2 mét là những cây mai con gieo bán giống. Dân làng thậm chí còn "xen canh" giữa các hàng mai là những luống cải, cà, ớt... Riêng vườn nhà cụ Châu vốn dĩ là nơi cung cấp các loại giống cà, ớt, thuốc lá cho suốt một vùng đông bắc Quảng Nam và bao nhiêu năm nay gia đình cụ "sống" nhờ những giống ngắn ngày ấy. Mỗi khi khách đến mua giống về trồng, thấy mai đẹp bèn xin một cây con, thành thử giờ đây hầu như các vườn mai các làng lân cận, ở huyện Duy Xuyên, Quế Sơn, Điện Bàn, thậm chí ở Hòa Vang (Đà Nẵng) đều lấy giống từ vườn này. Cụ Châu quả là có duyên với hoa cỏ. Ông móm mém khoe rằng nhờ nghe lời khuyên của mình mà con gái chịu trồng mai, để giờ đây khi cháu ngoại vào học năm đầu đại học đã có "đồng ra đồng vô" nhờ bán mai hằng năm. Thời cụ Châu còn theo nghề cung ứng giống cà, ớt, thuốc lá, bán một năm ngồi ăn những 2-3 năm. Riêng chuyện trồng hoa vạn thọ bán Tết, một cây giá hai ang gạo, năm nào vợ chồng cụ cũng bán đến tận giao thừa, về nhà xổ túi đựng tiền ra đếm mệt nghỉ.
Mai vườn Ái Mỹ cũng thăng trầm. Có thời cây sắn quý hơn mai, nhiều nhà phải đốn hạ bớt. Hết sắn đến sa-pô-chê. Nhưng cuối cùng mai vẫn trở về vị trí "thượng tôn" của nó... Cách Tết chừng một tháng, cả làng Ái Mỹ đồng loạt trút lá mà chủ vườn gọi nôm na là "đếm lá". Mỗi việc "đếm lá" này thôi mà những vườn nhiều mai phải mất ba bốn chục công thợ làm mới kịp. Tất cả các gốc trong độ tuổi cho hoa đều xuống lá dù có bán hay vẫn bám rễ vườn nhà, để kịp mùa xuân vàng rực mai cho người thưởng thức... Mỗi độ xuân về, người làng mai Ái Mỹ khi đi thăm thú nhau cứ như đi trong bát ngát vàng mai, sướng không tả hết.
Ngoài giống hoàng diệp mai, giờ Ái Mỹ có thêm giống hồng diệp mai. Hồng diệp mai được chuộng vì khả năng chống bệnh, lại không trổ hoa sớm. Mai Ái Mỹ trở thành một "thương hiệu" bởi khi chưng trong bình không rụng cánh, không héo... mà ngay các chủ vườn cũng chẳng thể lý giải vì sao, họ chỉ đoán chừng do đất đai thổ nhưỡng. Có chủ vườn dắt tôi ra đến tận hàng rào chỉ những gốc mai có tuổi đời ngoài hai mươi năm mà lắc đầu: "Những cây trồng ven rào này lại đẹp hơn, phân cành khéo hơn những luống trồng ngay ngắn trong vườn". Giống mai thế mà lạ, có thể bán đi cả "tam đại". Ba tuổi mai bắt đầu nảy cây con. Đến chừng bảy tuổi khi bán đi (cưa sát gốc) thì sẽ lại có thêm cây mai mới sau bốn năm nữa. Rồi đến lượt người ta bán cả gốc, gốc đẹp có lúc giá cả vài triệu bạc chứ không rẻ. Còn hơn cả kế sinh nhai, cây mai đã ăn sâu vào tâm tưởng dân làng Ái Mỹ bởi cái đẹp thanh tao của nó.
Từ rất lâu rồi, nhiều người dân "thấm" cái vóc dáng quân tử cao sang của loài mai qua câu đối: "Trúc bất xung thiên, mai vô phủ địa" (Trúc có cao bao nhiêu cũng không đội trời, mai dù có mưa gió thế nào ngọn cũng không gục xuống đất). "Tui thích mai còn bởi thứ cây này tưởng là cành khô nhưng vẫn cứ trổ hoa, lạ lắm. Còn ngày xuân thì làm sao thiếu nó được? Tui không sành chuyện "bói mai", nhưng rõ ràng mai nở cũng báo được chuyện thịnh suy của gia chủ" - cụ Bùi Đình Châu trầm ngâm.
Kể cũng thú vị với "động mai vàng" xứ Quảng: từ những vườn nhà nơi đây, mai mang theo ý xuân đến khắp các chốn khác. Và rồi Ái Mỹ ngày càng xuân hơn, sung túc hơn nhờ vào thứ cây cứ tưởng chỉ để ngắm chơi này...
Hứa Xuyên Huỳnh


DI TÍCH TRẦN CAO VÂN HOẠT ĐỘNG Ở ĐẠI LỘC

Di tích Trần Cao Vân hoạt động tại Đại Lộc


Trần Cao Vân là một trong những người cầm đầu âm mưu khởi nghĩa tại Trung Việt, do Việt Nam Quang Phục Hội chủ xướng. Ông sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Làng Tư Phú là một trong mười một làng thuộc khu đất "Gò Nổi", một khu đất sản xuất ra nhiều bậc anh tài của xứ sở như Phạm Phú Thứ, Hoàng diệu  v.v.. Ông là con cụ Trần Trung Trực, thường gọi là cụ Quyền Trực, một người được sự mến chuộng của dân làng Tư Phú và cụ bà Đoàn Thị.
Trần Cao Vân tên thật là Trần Công Thọ, lúc lớn lên từng học và đi thi lấy tên là Trần Cao Đệ, lúc vào chùa lấy pháp danh là Như Ý, khi ra hoạt động cách mạng đổi tên là Trần Cao Vân, biệt hiệu là Hồng Việt và Chánh Minh, còn có biệt danh là Bạch Sĩ. Theo những người đồng thời kể lại: Trần Cao Vân có vóc dáng trung trung, mặt vuông, trán cao, đôi mắt sâu và sáng, năm chòm râu dài tha thướt trông thật uy dũng.
Thường nhật ông có tánh bình dị, không chuộng sự xa hoa. Lúc thiếu thời không kể, nhưng từ khi được 21 tuổi, ngày mà ông bắt đầu ly hương cho đến ngày từ giã cuộc đời, ông đã trải qua nhiều giai đoạn: từ một nho sĩ, một đạo sĩ rồi đến một nhà cách mạng, ông sống một cuộc đời thanh đạm. Luôn luôn ông mặc một cái áo vải ta nhuộm màu xanh chàm, bịt khăn nhiễu thâm, đội chiếc nón lá, ngoài ra không có thêm một trang phẩm nào cả. Tuy là một nhà cách mạng, nhưng Trần Cao Vân rất nổi tiếng về văn chương thi phú. Lúc thiếu thời, khi còn là một thư sinh. ông tỏ ra xuất sắc nhất. Năm 13 tuổi, một hôm thầy học ra câu đối cho học trò tập làm bài. Nhìn thấy giữa lớp học có một cây đèn treo, thầy ra câu đối:
Đèn treo giọi sáng bốn phương nhà
Tuy nhỏ tuổi nhất lớp, nhưng lanh trí Cao Vân đã lên tiếng:
"Trăng tỏ khắp soi muôn cụm núi"
Có lần vào lúc tháng mười âm lịch. Cao Vân đến nghe giảng sách ở nhà cụ Cử. Sau buổi giảng sách xong, có người láng giềng đưa đến biếu bà cụ một mớ hành hương để làm giống. Bà cụ bảo: Hành này còn non mà tàn sớm e giống khổng mạnh (khổng là do tiếng không đọc trại ra, tiếng nói địa phương Quảng Nam, ngay tại miền Nam tiếng không ở miền quê vẫn đọc là "hổng" hay "khổng". Cũng như: Tôi hổng biết hay Tôi không biết nó đi đâu mất rồi). Cụ Cử nghe câu nói hay hay, liền lấy ý ấy ra câu đối cho học trò làm:
"Hành tàn giống khổng mạnh"
Câu đối này có hai nghĩa:
1- Nghĩa đen: Giống hành hay tàn không tốt
2- Nghĩa bóng: Lúc tiến lúc thoái đều theo đạo Khổng Mạnh
(Hành tàn đồng âm với Hành tàng, tức hành động và đi ở ẩn - Khổng mạnh đồng âm với Khổng Mạnh, tức Khổng Tử và Mạnh tử trong nho giáo).
Nghe xong Trần Cao Vân ứng khẩu đối lại:
"Cải hóa con càng khôn".
Câu đối này có hai nghĩa:
1- Nghĩa đen: Rau cải nảy nở càng tốt (vì cải con "hoá" tức là nẩy nở lên, "càng khôn", tức là càng tốt)

2. Nghĩa bóng: Làm người cần phải biết thay dổi, cách mạng để tiến hóa theo biến dịch của vạn vật (Cải hóa: thay đổi, tiến hóa, càn khôn, đồng nghĩa với càn càn khôn. Theo lối đối miệng (ứng khẩu) ngày trước các cụ thưòng dùng cách mượn âm)
Cụ cử và các môn đệ đều tán thưởng tài của Cao Vân không ngớt lời. Chẳng mấy lúc mà câu đối trên được truyền tụng khắp các vùng Bình Định, Quảng Nam.
Làm bài thơ "vịnh chiếc cối xay" Trần Cao Vân đã bày tỏ thân thế một cách rõ rệt. Mồ côi mẹ từ lúc tuổi còn nhiều hứa hẹn, sống trong gia đình tẻ nhạt khô khan vì thiếu tình mẫu tử, đến năm Cao Vân được 20 tuổi là năm mà nước nhà rơi vào cảnh đen tối, nhục nhã. Kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn, đó cũng chính là năm mà Cao Vân đặt bước phiêu lưu.
Khen ai xưa đã khéo trêu bày,
Bạn cối này ta vốn để xaỵ
Góc Tì kiền khôn trồng giưã rốn,
Cán Dần tinh đầu vận trong taỵ
Nghiên rằng tựa sâm ỳ ầm dậy,
Mở miệng đường mưa lác đác bay
Tứ trụ dưới nhờ chơn đế vững
Cùng trên phụ bật sẵn hai tay


(Vịnh Cái Cối Xay)
Trong Đạo thư có câu: Thiên thai ư Tý, địa tịch ư Sửu, nhân sinh ư Dần. Gốc Tý: chỉ ngôi trời, Cán Dần: chỉ người. Ý nói mọi việc đều do ý trời và lòng người hợp lại mới mong thành tựu.
Năm 1882, Cao Vân được cùng các sĩ tử dự lễ dám táng của Hoàng Diệu Tổng Trấn Bắc Thành, khi linh cửu được đưa về làng Xuân Đài, tỉnh Quảng Nam. Tiếp đến là những cái tang của vua Tự Đức và cảnh đất nước chìm đắm trong khói lửa xâm lăng của Pháp. Sau đó, Cao Vân lại vào chùa Cổ Lâm tại làng An Định, huyện Đại Lộc, thuộc miền thượng du tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian này, Cao Vân quen với Võ Thạch, tức là Thừa Tô, con trai của cụ Cai Tổng Trưng Chính trong sự kết thân này mà ông Thừa Tô đã đem em gái là Võ thị Quyền. tục gọi là cô Ba Bàn gả cho Cao Vân. Có một dạo Cao Vân ngồi dạy học tại làng Đại Giang, kế cận làng An Định, cũng gọi là Bồ Phan. Trong thời gian làm đạo sĩ tại cổ Lâm tự, Cao Vân đã làm một bài thơ như sau:
Chí quyết tan bồng vỡ bốn phương,
Chồng nằm chi để ghé râu vương.
Ba thù quyết trả đền ơn trọng,
Một giân mong ra gỡ tiếng ương.
Nợ nước đã toan tròn nghĩa vụ,
Tình nhà đánh gác nỗi tư lương.
Nam mô nguyện trả xong rồi nợ
Mối thành đem về cõi Hạ Thương.
Vào khoảng tháng 9 năm 1915, Trần Cao Vân được Việt Nam Quang Phục Hội ủy nhiệm cùng bạn đồng chí là Thái Phiên tiếp xúc với vua Duy Tân để mời nhà vua tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp.
Trần Cao Vân và Thái Phiên đã tìm đủ mọi cách đưa Phan Hữu Khánh vào làm tài xế cho vua Duy Tân để thực hiện được chương trình giao phó. Trong dịp này, Phan Hữu Khánh đã dâng lên vua Tự Đức một bức thư đại ý tâu trình lên vua những thảm trạng của đất nước và sự nô lệ của dân tộc và nguyện vọng của dân chúng mong muốn khôi phục lại nền độc lập của quốc gia. Xem thư xong, vua Duy Tân vô cùng cảm động và mong ước được hội kiến với các nhà ái quốc để luận bàn quốc sự.
Ngày 12 tháng 3 âm lịch (1916), Cao Vân và Thái Phiên giả làm người đi câu, đến tìm gặp vua Duy Tân trên Ngự Hà và hoạch định chương trình khởi nghĩa cứu quốc. Sau đó, ít lâu Cao Vân và Thái Phiên được bầu vào ủy ban khởi nghĩa tại kinh đô Huế trong dịp tiếp xúc nhà vua lần thứ haị Thái Phiên giữ chức chủ tịch và Cao Vân làm chức quân sự Lúc đầu cuộc tổng khởi nghĩa định vào giờ Ngọ, ngày Ngọ, tháng Ngọ tức là ngày mồng 2 tháng 5 năm Bính Thìn (nhằm ngày 8 tháng 6 năm 1916). Trần Cao Vân đã làm bài thơ "Hỏa Xa Quế Hàn" dưới đây để ra hiệu lịnh mật cho các nơi:
Một nỗi xa thơ đã biết chưa ?
Bắc Nam hai ngã gặp nhau vừa,
Đường rầy đã sẵn thang mấy bước.
Ống khói càng cao ngọn gió đưa.
Sầm dậy tứ bề trăm máy chuyển,
Phút thâu muôn dặm nửa giờ trưa
Trời sai ra dọn xong từ đấy,
Một mối xa thơ đã biết chưa ?
Nhưng sau đó, theo quyết nghị chung, vì trường hợp khẩn cấp, phải khởi nghĩa trước một tháng, vào đêm mùng 2 tháng 4 năm Bính Thìn, tức ngày 3 tháng 5 năm 1916. Nhưng ngay chiều mồng 1 âm mưu bị bại lộ, quân Pháp đã áp dụng những biện pháp đề phòng rất gắt. Trần Cao Vân và Thái Phiên không ngờ vực gì cả, cứ theo như kế hoạch đã định đưa vua Duy Tân ra khỏi hoàng thành. Vua Duy Tân và Thái Phiên bị bắt gần cửa Nam Giao (Huế), còn Trần Cao Vân cũng bị bắt tại Hà Trung thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.
Ngày 17 tháng 5, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Hữu Khánh và mấy người lính hầu vua Duy Tân bị xử chém tại An Hoà (phiá Tây Bắc Thành Nội Huế), nhằm ngày 16 tháng 4 năm Bính Thìn. Trần Cao Vân hưởng thọ 51 tuổi.
Trong lúc bị giam tại nhà lao Huế, trước ngày ra pháp trường lên đoạn đầu đài đền nợ non sông, Trần Cao Vân có làm hai bài thơ tuyệt mệnh.
Trung lập kiền khôn bất ý thiên
Việt Nam văn vật cổ lai truyền.
Quân dân cọng chủ tinh thần hội,
Thần tử tôn châu nhật nguyệt huyền,
Bách Việt Sơn Hà vô bạch xỉ,
Nhất trang trung nghĩa hữu thanh thiên.
Anh hùng đề cục hưu thành bại,
Công luận thiền thu phó sử biên


(Bài thứ nhất)
Bản dịch Nôm của Hành Sơn:
Giữa trời đứng sững không thiên,
Nghìn năm nước Việt còn truyền sử xanh.
Chu vương nhân chính đại hành
Quân dân hợp sức lũy thành đắp xâỵ
Người thù non nước còn đây,
Trời xanh với tấm lòng nầy tương trị
Anh hùng thành bại xá gì,
Nghìn thu lịch sử còn ghi lại đời
VỊNH TAM TÀI
Trời dất sinh ta có ý không ?
Chưa sinh trời đất có ta trong
Ta cùng trời đất ba ngôi sánh,
Trời đất in ta một chữ dồng.
Đất nước ta ra trời chuyển động,
Ta thay trời mở đất mênh mông.
Trời che đất chở ta thong thả,
Trời đất ta đầy đủ hóa công.
(Bài thứ hai)
Một người vô danh đã khóc Trần Cao Vân bằng 4 câu thơ dưới đây:
Hy tiên văn hậu thử chân thuyên
Biệt tự trung gian tạo nhất thiên
Học thuyết năng tương tiên huyết nhiệm
Nam phương tân dịch tích vô truyền
Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch Nôm:
Văn sau Hy trước vẫn kinh này,
Riêng giữa "trung thiên" đứng một tay,
Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm,
Trời Nam dịch mới tiếc không thầỵ
Về văn thơ cuả Trần Cao Vân, ngoài những bài trên đây, còn những câu đối, những bài thơ đa số đều bộc lộ những lời lẽ ái quốc của một nhà cách mạng. Nhân cụ Châu Thơ Đồng, tức Châu Thượng Văn nhịn đói mà thác tại nhà lao Thừa Phủ Huế, vì việc nhân dân kháng thuế tại Trung Kỳ mà cụ đứng ra nhận chịu là chính cụ khởi xướng. Khóc cụ Châu Thơ Đồng, Trần Cao Vân làm câu đối:
Ngã bất năn xã sinh !
Nại hà tai "Trung thiên dịch" sơ khai,
Du lý thất niên tiền vị điền
Quân nãi năn tựu nghĩa !
Nan đắc giả vạn thế kinh độc thủ
Thú Dương thiên tài hậu du văn
Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch Nôm:
Ta có tiếc sống đâu !
Ngặt vì địch "Trung thiên" mới mở đầu,
Du lý bảy năm chưa kịp điền.
Người hẵn theo nghĩa đấy !
Khó nhất kinh muôn đời hay giữ chắc,
Thú Dương nghìn thuở vẫn còn nghe
Trong đơì làm cách mạng, Trần Cao Vân bao lần vào tù ra khám. Liên lụy vì cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ, ông bị giam 11 tháng tại nhà lao tỉnh Phú Yên. Sau đó vì vụ án "Trung thiên dịch" (Nguyên Kinh Dịch, tương truyền, là do vua Phục Hy thời cổ (khoảng 4000 năm trước Tây Lịch) làm ra gọi là dịch "Tiên Thiên). Kế tiếp vua Văn Vương bày ra Dịch "Hậu Thiên", Chu Công và Khổng Tử phụ thêm vào các lời Hào Từ, Thoán Từ, Văn Ngôn, Hệ Từ, Thuyết Quái, Tự Quái, Tạp Quái. v.v... để bàn rộng ý nghĩa Kinh Dịch của Phục Hỵ
Từ đời nhà Hán đến đời nhà Thanh, rất nhiều học giả Tàu tranh luận sôi nổi về Kinh Dịch "Tiên Thiên" và "Hậu Thiên" nhưng chưa có người nào bàn ra ngoài hai thể tài trên. Ngay cả các bậc túc Nho bác học như Trình Di, Chu Hy đời nhà Tống cũng chưa dám có ý kiến riêng ngoài "Tiên Thiên" và "Hậu Thiên". Nghiên cứu về Kinh Dịch trong lúc còn ở tại chùa Cổ Lâm ở làng An Định (Quảng Nam), Trần Cao Vân lại xướng lên Dịch "Trung Thiên", nghĩa là đem Dịch "Tiên Thiên" của Phục Hy hợp lại với Dịch "Hậu Thiên" của Văn Vương, nhưng mãi đến ngày nay không mấy ai hiểu rành thuyết lý "Trung Thiên Dịch" của ông cả. Trần Cao Vân lại có tài xem tướng số rất giỏi, không bao lâu mà thiên hạ hai tỉnh Bình Định, Phú Yên xem ông như một nhà tiên tri đại tài. Có người tâng bốc cho ông là một người có tài nham độn xuất quỷ nhập thần. Mọi người đua nhau theo thuyết "Trung thiên dic.h" của ông và trong nhà viết 6 chữ: bên tả hai chữ "Tiên Thiên", bên hữu hai chữ "Hậu Thiên" và chính giữa hai chữ "Trung Thiên" để hàng ngày chiêm ngưỡng. Số người lui tới Trần Cao Vân ngày càng đông. Trong dân chúng cứ đua nhau thì thầm bàn tán về "Trung Thiên Dịch". Nhà chức trách địa phương vô cùng lo sợ, vì mới đó không lâu giặc Võ Trứ vừa mới dẹp yên, nay nếy xảy ra việc lôi thôi ắt phải bị triều đình khiển trách nặng nề. Vì thế Bố Chánh Buì Xuân Huyến truyền bắt Cao Vân và bà vợ cùng với người đệ tử Nguyễn Nhuận hạ ngục. Hôm bắt Trần Cao Vân lập lời khai trước công đường có trải chiếc chiếu, bỗng từ đâu có một cong cóc nhảy vàọ Muốn hạ nhục Cao Vân, Bố Chánh Huyến bảo ông phải làm bài thơ vịnh con cóc. Cao Vân viết ngay:
Muốn vật thân ta nghĩ lại càng,
Nỗi mình trông thấy cóc ngồi hang
Áo sồi một tâm trời che đậy,
Hang thẳm mây từng đất mở mang.
Giếng ếch nó thèm đua lặn hụp Cung
Thiềm riêng ở mặc nghinh ngang.
Nghiến răng sấm dậy chừng ra cửa,
Lưỡi quét xong rồi kiến thảy tan.
Biết Cao Vân có ý mỉa mai và ngạo mạn sỉ vả mình, Bố Chánh Huyền truyền đem phạm nhân tra khảo bảo cung khai về tội xúi dân làm loạn, nêu lên thuyết "Trung Thiên Dịch". Huyến lại đệ trình về kinh xin tuyên án tử hình Trần Cao Vân, nhưng nhờ có một số người muốn che chở, cho nên bản án được phê: 3 năm khổ saị Cao Vân bị giam tại ngục Bình Định, bà vợ cũng bị phạt tù và rei^ng thân phụ của ông bị phạt 40 đồng vì đã không dạy dỗ con nghiêm chỉnh. Vừa mãn tù 3 năm ở khám ra chưa được bao lâu, nhân có cuộc kháng thuế và xin miễn xâu tại tỉnh Quảng Nam vào tháng hai Năm Mậu Thân (1908), vừa tảng sáng đang ở nhà lao Quảng Nam. Ông không hiểu vì lẽ gì mình bị bắt giam, mãi đến mấy ngày sau mới rõ là do việc dân xin miễn xâu tại Quảng Nam mà ông nghi ngờ là có nhúng tay xúi giục. Tòa án Nam triều tỉnh Quảng Nam kết tội các thân sĩ là "hô hào dân trí cổ võ dân quyền" chính là mầm mống xúi dân làm loạn. Án lịnh được thi hành và ngày mồng 8 tháng 8 năm Mậu Thân (1908) những chuyến tàu đưa các thân sĩ đày ra Côn đảọ Riêng Trần Cao Vân còn phải chờ điều tra bổ túc ở hai tỉnh Bình Định và Phú Yên, rồi cũng bị kết án chung thân khổ sai đày ra Côn đảo vào năm sau, tức năm Kỷ Dậu (1909). Lần ra đi này không giống như những lần trước, vì bản án "Chung thân khổ sai" (Nhưng về sau được ân xá và ông chỉ ở tại Côn đảo 6 năm thôi). Nghĩ đến tiên đồ tổ quốc, đến vận nước khinh nguy, nghĩ đến ngày mai đen tối của dân tộc, Trần Cao Vân vô cùng đau đớn. Hai bài thơ dưới đây nói lên tấm lòng người thương nước mến dân trong những ngày bị lưu đày nơi hải đảo:
Bài Thứ nhất
Vấn dư hà sự đáo Côn Lôn ?
Tứ vọng thương mang ỷ ngục môn
Trung quốc vị thù nam tử trái
Hiếu gia du hám lão thân tồn !
Ngư thơ hải ngoại truyền tâm huyết,
Kình hống thiên biên tỉnh mộng hồn.
Hồng Lạc hôi tư khai Việt tổ,
Thử thân thệ hữu thử kiền khôn
Dịch Nôm:
Có gì ta lại đến Côn Lôn ?
Trời bể mênh mang tựa ngục trông.
Thù nước chưa nguôi cơn báo phục,
Thảo thân khôn thấu nỗi hàn ôn !
Cá đi muốn gởi lời tâm huyết,
Sóng vỗ như khuya giấc mộng hồn.
Nhớ tổ Lạc Hồng công dựng nước,
Thân này thệ nguyện với kiền khôn !
Bài Thứ nhì
Phương châm vị định thốn tâm huyền,
Đa tích nhiệt thành dĩ hữu niên,
Bất đáo Côn Lôn chân lạc địa,
Yên trí hoàn hải đại toàn thiên.
Ngô đồ lạc lạc hưu đa thán,
Tạo chủ thương thương tự hữu quyền
Tối thị anh hùng ma luyện xứ
Cổ kim kỳ cục hựu kỳ duyên
Dịch nôm
Phương châm chưa định dạ chưa yên,
Tâm sự bao năm chửa phỉ nguyền.
Chẳng đấn Côn Lôn nơi thắng cảnh,
Biết đâu hoàn hải cõi toàn thiên
Khuyên cùng bè bạn đừng ta thán,
Đã có cao xanh tự chủ quuyền.
Rèn đúc anh hùng đây đã sẵn,
Nghìn xưa kỳ cuộc cũng kỳ duyên
(bản dịch của Hành Sơn)
Sau đây là những bài thơ của Trần Cao Vân còn lưu lại:
Vịnh Bà Cờ Thắng
Đừng quen pháo mạnh vọt ngang cung,
Mệnh tướng truyền ra sĩ vẫy vùng.
Voi ngự thân chinh toan mở nước,
Binh triều ngự giá giục sang sông.
Xe liên vạn sát kinh tài cả,
Mã nhựt song trì mặc sức tung.
Sau trước trong tay rành rỏi nước,
Cờ cao Hán tổ đễ đua cùng.
Vịnh Hòn Ông, Hòn Bà
(Tại tỉnh Phú Yên (Trung Việt) có hai quả núi cao vút, sừng sững dối nhau, tục gọi là "Hòn chồng Đực, Hòn chồng Cái" hay "Hòn Ông, Hòn Bà". Trần Cao Vân lấy tên núi ấy làm 8 câu thơ dưới đây:
Đất nén trời nung khéo định đôi,
Hòn chồng Đực, Cái, sánh hai ngôi
Ông xây nên đống cây trồi mụt,
Bà đúc y khuôn đá mọc chồi.
Mây núi phủ giăng màn tịnh túc,
Nước khe hầu rót chén giao bôi.
Non thề giai lão trơ trơ đấy,
Gió chẳng lung lay sóng chẳng nhồi

Vịnh con tôm
Loài ở nghe lộn bùn mọc râu,
Ngo ngoe có biết mốc gì đâu ?
Cong lưng cứ ỷ tài đâm bắn,
Ló mặt khôn dò lạch cạn sâu,
Ngoài ủ lom xom càng múa gọng,
Trong oi sùn sụt đít co đầụ
Dỡn rồng ta bảo đừng quen thói,
Một nhũi là xong lựa, tát câu
Vịnh vợ chồng lái đò
Mặc ai chài lưới chẳng thèm lo,
Chưa gặp thời âu tạm chống đò.
Sông rộng lão toan cầm lái vững,
Lạch sâu mụ hãy cắm sào dò.
Dân trời đưa rước ngày thong thả,
Lộc nước ăn nhờ bửa ấm nọ
Buồm thuận gió hồng khi đỗ bến,
Vợ chồng một giấc ngáy kho khọ
Vịnh Hòn Vay, Hòn Trả
(Hòn núi này tại tỉnh Phú Yên Trung Việt)
Ai nhủ hỏi đòi khéo lá lay
Ở qua Hòn Trả bởi vì Vay,
Tờ mây bóng rợp bà so chỉ,
Nợ nước ơn đền ông phủi taỵ
Ngày tháng rảnh chân muốn cụm bước,
Cỏ cây dâng lộc bốn mùa thaỵ
Khách giang hồ những tha hồ mượn,
Lân Hải Vân rồi đó sẽ haỵ
Vịnh ông trời n... c... (Động cỡn)
(Nguyên tại Phú Yên vào khoảng cuối tháng ba tiết trời nắng hạn, ít khi mưạ Mùa này nông dân gặt lúa đem về phơi để đổ vào bồ. Vì biết trời không mưa, nên họ phơi lúa bừa bãi khắp nơị Một hôm, bỗng nhiên trời mưa làm ướt tất cả lúa thóc. Nhiều người cộc cằn thô lỗ đã buộc miệng ó lên: Ông trời n... c... Bấy giờ Trần Cao Vân đang ngồi giảng sách cho học trò, nghe câu nói tục tằn, nhưng xét ra có triết lý thú vị, ông liền muợn đầu để làm bài thơ Đường luật)
Từ xưa Thái cực đúc nên hòn,
Mới biết ông trời c... thẳng bon.
Gù mông vổng nằm nang gốc bể,
Ngũ mây sựng đứng trất đâu non.
Nhởn nhơ đì gió trên qua lại,
Thấp thoáng mườn trang ghẹo méo tròn.
Hang nguyệt ước rờ cha chả sướng.
Đẻ vua rồi lại chán tội con.

Gởi cho bà Trần Cao Vân
Xe trở bánh gần hết khúc co,
Trông chồng chi lắm mặt buồn teo,
Thân chàng chắc vững không nao núng,
Dạ thiếp đừng lo chú mẻo meo.
Trướng liễu xũ màn khuyên hãy giấc,
Vườn đào sẵn giếng để rồi gieo,
Thung dung mặc sức cùng nhau sẽ.
Chót núi thôi đừng ngó mỏi nheo.

Nguồn: http://dailoc.org/node/86