NGUYỄN VĂN NAM

  • Dấu chân qua vùng thơ ấu

    Mai em nhé! Anh đưa em về Quảng Gặp tuổi thơ đã mù xa năm tháng Uống giọt sương khi bình minh ló rạng Ai chợt gọi tên mình: Răng đi dữ rứa mi...!

  • Nửa đời nhặt bụi trần gian

    Mười năm, sau nữa...trò ơi ! Mười năm rũ bỏ rong chơi bến bờ... Thả hồn gọi mãi tuổi thơ Nhìn viên phấn trắng bạc phơ mái đầu

  • Quê hương mãi chốn đi về

    Ta về tìm nhặt ấu thơ Giữa đồng rơm rạ sương mờ dần sang Ta về tìm giữa mênh mang Bóng ai như thể bóng làng xa xa...

  • Một lần nợ cả mai sau...

    Người đem thế giới ngâm vào rượu. Ta lấy càn khôn nướng thế mồi

VIẾT CHO ANH

HÀ KIỀU EM

GỌI TÊN KÝ ỨC

BÂNG KHUÂNG SÔNG HÀN

NHỚ EM VÀ PHỐ HỘI

MÙA THƯƠNG

NGƯỜI DƯNG ƠI

QUA TỪNG CON CHỮ

VỚI HUẾ

GỞI THU BỒN

GỞI NGƯỜI ÁO TÍM

VÔ ĐỀ

VỀ QUÊ

LỜI RU NGÀY ẤY

TRÍCH DẪN 20 NHẬN ĐỊNH HAY VỀ THƠ CỦA CÁC NHÀ THƠ VĂN LỚN

HUẾ VÀ EM

MÒN

VỀ THÔI

MỪNG TÂN GIA

LẠC BƯỚC THIÊN THAI

LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC

LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC

             
Buổi đầu ngắm núi nhìn sông
Chim không chỗ đậu người không chốn nằm
Tầng sâu còn dấu mìn bom
Một vùng giải phóng…tối tăm đất trời
Nhìn nhau biết tính sao đây?
Lòng không, đất trắng, đổi đời được chăng?
Sẵn sàng một nắng ba sương
Giọt mồ hôi Đảng, ngàn vàng khó dân!
Tìm đâu vậy một sức xuân
Sâu trong lòng đất vì dân hết mình
Đôi tay trắng một vùng xanh
Xóm làng ngói đỏ, ngọt lành tiếng chim
Gái khoe giữa tuổi trăng rằm
Hai mươi, hăm mốt tấn năm quyết lòng
Đất người vương vấn vấn vương
Đất cho vô tận người thương khôn cùng
Thắm lòng chia vị lòn bon
Chè tay ai hái ngát hương An Bằng
Đã lên Đại Phước, Đại Đồng
Khó quên thế núi, dạng sông, tình người.
=Lưu Trọng Lư-1983=
SUỐI MƠ-ĐẠI LỘC



VUN LẠI NHỮNG MẦM XANH


VUN LẠI NHỮNG MẦM XANH


=Dương Văn Sương=

          Xuân này-2015, cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm ngày Bắc Nam sum họp, gia đình đoàn viên, đất nước nở hoa độc lập. Trong ngày vui này, bao hoài niệm buồn, vui và nỗi nhớ! Đối với Đại Thạnh, trong tâm thức của của bao người quên sao được những ngày gồng gánh, “tay bồng em, cháu dắt bà” từ các khu dồn của địch, về làng xưa, chốn cũ, trước mắt là cảnh không đường, không vườn, không nhà, không bóng cây, nhìn nơi đâu cũng “loan lổ hố bom”, “đạn cày, bom xới”, cây cối tiêu điều, xơ xác bởi đạn pháo, chất độc hóa học, khiến ai cũng phải chạnh lòng:


                                        Buổi đầu ngắm núi nhìn sông
                              Chim không chỗ đậu người không chốn nằm
                              Tầng sâu còn dấu mìn bom
                              Một vùng giải phóng…tối tăm đất trời
                              Nhìn nhau biết tính sao đây?

(trích LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC-Lưu Trọng Lư)



          Nhưng! Không chùn bước. Chi bộ Đảng, chính quyền, cùng Nhân dân bắt tay vào cuộc chiến mới không kém phần cam go và quyết liệt: khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương. Trước hết khẩn trương giúp nhau dựng lều trại để ở, khai thông đường sá, phá gỡ bom mìn, khai hoang đất đai, tổ chức sản xuất, chăm lo cuộc sống của hàng nghìn người dân về lại quê nhà sau bao nhiêu năm ly tán. Công việc chồng lên công việc, song ai nấy đều không tính toán thiệt hơn. Hàng trăm lao động thay phiên nhau vào rừng đốn cây, cắt tranh về làm trường học cho con em kịp bước vào năm học mới; xây dựng trạm y tế sơ cứu, chữa bệnh cho nhân dân; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác “đền ơn đáp nghĩa” được triển khai kịp thời bằng việc xác lập hồ sơ chính sách thương binh, liệt sỹ, người có công giúp đỡ cách mạng; đồng thời tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ từ rừng núi, khe suối… về với dân làng. 



CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH
          Sau bao ngày thấm đẫm mồ hôi vật lộn với ruộng vườn, tình người và đất Đại Thạnh đã đơm hoa, kết trái. Khắp nơi, cây cối, đồng ruộng tốt, khoai sắn đầy nhà. Ai ai cũng tràn ngập niềm vui khi ăn bữa cơm đoàn tụ với khoai, sắn ngọt bùi do chính mình canh tác nơi chôn nhau, cắt rốn! Khi Đảng chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, Nhân dân Đại Thạnh hưởng ứng sôi nổi góp ruộng đất làm tư liệu sản xuất, góp cổ phần bằng tiền mua sắm 16 bộ máy nước, các dụng cụ sản xuất, Đào đắp hàng chục ki lô mét kênh mương dẫn nước từ hệ thống máy nước lắp đặt ở sông Thu Bồn và Khe Cát lên đồng ruộng. Đáng ghi nhận là được sự giúp đỡ của huyện, Đảng bộ, chính quyền và bà con xã viên quyết tâm xây dựng các đập thủy lợi như: đập Hóc Lách tưới cho cánh đồng An Bằng, đập Hố Chình tưới cho cánh đồng Thạnh Phú, Nam Phước…. Đây là giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề nước tưới cho những cánh đồng “treo”,mà quanh năm ngong ngóng “chờ trời”. Mặc dù thiếu thốn trăm bề nhưng bằng nghị lực bền bỉ, những đôi bàn tay chai sạm, bờ vai gầy vẫn hăng say đào đắp hàng nghìn mét khối đất, đá ngăn dòng, tích nước tưới cho cả trăm héc ta đất. Và, sau bao ngày chờ đợi, “hôm nay, nước đã về đồng”. Những vụ mùa trắng tay, bữa ăn hằng ngày “cõng sắn, cõng khoai” lùi vào dĩ vãng. Gần 30 năm trôi qua, ký ức về các công trình thủy lợi ngày nào vẫn còn tươi nguyên nơi tâm thức bao người. Và hôm nay, tuy công trình thủy lợi Khe Tân đã và đang mang lại sự ấm no, giàu có cho cả vùng B Đại Lộc nhưng đập Hóc Lách và đập Hố Chình vẫn là "vị cứu tinh" cho những cánh đồng “bậc cao” của Đại Thạnh, Đại Chánh, Đại Tân. (*)

         
TRƯỜNG THCS LÝTHƯỜNG KIỆT-ĐẠI THẠNH
 Nhớ lại những năm 80 của thế kỷ trước, phong trào thi đua yêu nước ở Đại Thạnh được phát động sâu rộng trong các tầng lớp Nhân dân. Chuyện nhà, chuyện làng, việc nước đều được gắn với các hoạt động thi đua. Đội thiếu niên mang tên Bác “làm nghìn việc tốt” thi đua nỗ lực trong học tập, lao động xây dựng trường lớp, làm phân xanh bón ruộng. Gắn phong trào “toàn dân làm thủy lợi”, Hội Nông dân và Hội Phụ nữ phát động hội viên hăng say lao động nạo vét sông Quảng Huế, đưa nước lên trạm bơm Đại An. Đoàn viên, thanh niên tình nguyện xung kích lên đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngại khó, ngại khổ, những “thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh” trở thành kiện tướng lao động trên đại công trường thủy lợi Phú Ninh. Ở chiến hào bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, nhiều người được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang… Có những người đã anh dũng ngã xuống nơi biên cương vì Độc lập, Tự do của dân tộc. Tất cả sự cống hiến, hy sinh đó ngời sáng mãi tinh yêu quê hương, đất nước. Người ở lại hậu phương, kiên trì bám ruộng đồng, bám phong trào. Có thêm nhiều người từ nơi khác tình nguyện lên giúp xã khai hoang, dạy chữ cho học sinh được Đại Thạnh xem như người một nhà khiến các anh, chị luôn cảm thấy ấm lòng, tăng thêm nghị lực để tiếp tục cống hiến và xem nơi đây như là quê hương thứ hai của mình: 

          “Chưa lên Đại Thạnh thì run 
          Đã lên Đại Thạnh (muốn) ở luôn không về!” 

          Tròn 35 năm gắn bó với nghề, cô giáo Phạm Thị Thiếu Vôn - nguyên Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Nho Túy trải lòng: “Bước chân đầu tiên lên bờ đất Bến Dầu lạ lẫm để vào miền đất Đại Thạnh xa xuôi, cằn cỗi hoang vu đầy cỏ dại. Ngày mới giải phóng, nơi đây quả là khó khăn thiếu thốn dễ làm nản lòng những cô gái trẻ từ thành phố lên. Nhưng với tôi thì không. Đời sống khổ cực của giáo viên bên cạnh dân làng tại đây đã cho tôi thấy được cái đằm thắm của tình người và ý nghĩa của cuộc sống”.
TRƯỜNG MẪU GIÁO ĐẠI THẠNH
         
 Bước vào thời kỳ đổi mới, đặt biệt từ khi Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 06(tháng 5/1989). Nhận thức đây là một chủ trương mang tính đột phá cho phát triển nông nghiệp, Đại Thạnh kịp thời tổ chức giao đất sản xuất cho hộ gia đình, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa. Thời gian sau đó, xã tập trung khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp (4.917ha), tổ chức giao rừng đến nhóm hộ và hộ để khoanh nuôi bảo vệ, trồng rừng. Thực hiện dự án trồng rừng bền vững KFW6; rừng nguyên liệu giấy phủ xanh đất trống, đồi trọc, góp phần cân bằng hệ sinh thái, đồng thời nâng cao mức sống người dân… Cùng với phát triển nông- lâm nghiệp, Đại Thạnh còn tập trung vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp đến địa bàn sản xuất kinh doanh. Điển hình là Công ty may mặc Phú Hòa ở Đà Nẵng xây dựng phân xưởng may mặc ở thôn Tây Lễ, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương; Công ty TNHH xây dựng Hữu Thái đang đầu tư, xây dựng Cụm thương mại dịch vụ Bến Dầu với diện tích 6 ha (theo hồ sơ thiết kế, nơi đây xây mới chợ Bến Dầu đạt chuẩn tiêu chí chợ nông thôn mới, ngoài ra còn các công trình dân sinh, phúc lợi xã hội: Trạm y tế, nhà văn hóa, bến xe, khu vui chơi giải trí cho trẻ em, cùng với đó là khu dân cư mới bố trí theo ô bàn cờ vuông vức, bên những con đường bê tông rộng phẳng, đây sẻ là điểm nhấn trong bước đường xây dựng nông thôn mới từ nay đến năm 2020. 


MÔ HÌNH NUÔI CÁ DIÊU HỒNG TRÊN LÒNG HỒ KHE TÂN
         
TRÀN XẢ LŨ HỒ KHE TÂN
 
Một thời, Đại Thạnh địa hình không khác gì là ốc đảo, tuyến đường bộ gần như độc đạo nắng thì bụi, mưa lầy. Nay, diện mạo làng quê từng ngày “thay da đổi thịt”. Hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi. Bên cạnh nguồn lực Nhà nước đầu tư hai tuyến đường ĐH và hai cây cầu nối liền Đại Thạnh với các xã Đại Thắng, Đại Chánh. Các con đường ĐX của xã được cứng hóa và chạy khắp các thôn cùng, ngõ hẻm bằng nguồn lực huy động từ trong nhân dân, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế- xã hội của Đại Thạnh. 

Đời sống nhân dân luôn được phát triển, trong 5 năm qua hộ nghèo giảm bình quân 4%/ năm, cuối năm 2014 còn 16%. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được đầu tư mạnh mẽ, cơ sở vật chất trường lớp ngày càng khang trang, chất lượng giáo dục được nâng lên đáng kể. Những năm gần đây, xã có hàng trăm học sinh giỏi cấp huyện. Góp sức cùng huyện có 11 học sinh giỏi cấp tỉnh ở bậc trung học cơ sở, 9 em vào trường trung học phổ thông chuyên bắc Quảng Nam. Ba cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đều đạt chuẩn quốc gia.

        
CHIỀU KHE TÂN
Nhìn lại thành quả 40 năm “trồng người”, Đại Thạnh cũng góp phần cho đất nước hàng trăm nhân lực có chất lượng cao vào công cuộc kiến thiết Nước nhà; Đó là: những công nhân lành nghề, kỹ sư, bác sỹ, nhà giáo, nhà văn, nhà khoa học họ có mặt ở mọi miền Tổ quốc. Và bao người... vẫn ngày đêm bền bĩ đúc “viên gạch hồng” xây dựng quê hương. Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân đạt nhiều thành tựu, góp phần nâng cao được thể chất, sức khỏe mọi người. Đời sống kinh tế-xã hội không ngừng được cải thiện, nhà nào cũng có xe máy, phương tiện nghe nhìn, gia đình khá giả hơn đã sắm được ô tô tải, máy gặt đập liên hợp, xe du lịch… Cuộc sống mới đang về mà cứ ngỡ như trong mơ!

          Bốn mươi năm, quãng đường kiến thiết quả không dài đối với Đại Thạnh-quê hương Anh hùng, có bề dày về truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng. Những thành quả mà mảnh đất, con người Đại Thạnh có được là minh chứng sinh động cho lòng yêu nước thiết tha và ý chí, nghị lực hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hương từ đống hoang tàn đổ nát.
Xuân mới, sức sống mới, màu xanh mới tràn đầy niềm tin yêu !
D.V.S
--------------
(*) Nay là xã Đại Thạnh, xã Đại Chánh và 1 phần của xã Đại Tân.

LẠC KHÚC YÊU THƯƠNG

LỐI VỀ



LỐI VỀ
=Nguyễn Văn Nam=

Bạt ngàn hun hút
Rừng bao la
Đồi dốc điệp trùng
Lởn vởn ảo mờ trên những triền thung
Ngọn lá lung lay
Chợt lòng xao động
Ông gọi vô hồn...khoảng không gió lộng
Nhón mở ba lô…
Đồng đội mất còn…?
Đêm hữu tình
Tìm thực tại chốn điêu linh
Nhật ký mang theo
Nguệch ngoạc hành trình giao liên Huyện đội
Trải qua Dốc Gió, Y10
B2 từng bữa cõng gùi
Bao nơi nữa…ghi một thời quân nhân
Lửa chiến trường
Nam-Trung-Bắc đâu phân
Rau luộc Trường Sơn
Mặn nghĩa tình đồng chí…
Lán lá vừa xanh
Chia hơi choàng vải mỏng toanh
Gối súng nằm chung
“Tôi-anh và đồng đội mình đấy nhỉ!”…
Qua rồi khói lửa chiến chinh
Về quê thao thức lòng mình
Mờ tỏ trong đêm
Bóng anh em đa phần mạn Bắc…
Mấy mươi năm
Từng bước chân thầm nhắc
Trở lại Trường Sơn
Với ba lô và hành trang vụn vặt
Gom ký ức giao liên
Tìm cố nhân…
Quê mẹ…lối về…!

CÒN CHÚT QUÊ TRÊN PHỐ



CÒN CHÚT QUÊ TRÊN PHỐ
=Nguyễn Văn Nam=

Mấy ngàn năm
Vẫn cứ làng quê
Doi đất
Triền sông
Bãi làng bồi lở…
Rặng tre xanh
Soi bóng long lanh…
Ru hời người quê dập dờn nỗi nhớ
Cánh cò uốn lượn ca dao
Nôn nao tiềm thức…đi…về…
Thản nhiên thời cuộc
Phố phường không mọc sớm mai
Như mặt trời hừng đông
Quy luật!
Ai giữ lại cho mình
Ngày mẹ cha tất bật
Vã mồ hôi ướt vế gàu sòng…
Nhà cao phố rộng
Át cả đồng làng lỡ nhịp bon chen
Ta bước đi dưới vạn ánh đèn
Chợt lẻ loi…nhớ miền quê rưng rức
Nhận bóng đồng xa
Góc bảo tàng thổn thức
Gàu sòng co ro…vợi về ký ức
Mờ tỏ lòng đèn phố mông lung
Bao nhiêu lớp nhện giăng mùng…!

THÁNG CHẠP



THÁNG CHẠP
=Sông Hương=

Tháng chạp
Đàn sếu chở mùa thiên di
Chân ruộng quê mình lênh loang nước
Cha gánh phân rãi đồng mưa hắt lạnh bờ đê trơn trượt
Chân trần bấm vào mơ ước
Gió bấc đầu mùa chẳng khô vạt mồ hôi
Tháng chạp
Tiếng hò mẹ ru ấm nhịp tao nôi
Ấm mùa đông buốt giá
Lời ru thơm khói bếp chiều, hương đồng rơm rạ
Thơm vào khúc ca dao
Đi suốt cuộc đời chẳng đến non cao *
Tháng chạp
Mẹ chong đèn đêm thâu ?
Con đi học đường xa về muộn
Thấp thỏm sông quê nước về cuồn cuộn
Thắt lòng rung vạt liếp thưa
Tháng chạp
Bữa cơm nghèo mặn vị mắm dưa
Thấm vào trang vở con qua những mùa giáp hạt
Con biền biệt phương xa, cơm thị thành chẳng làm quên đĩa cà dầm chua chát
Cua đồng thơm bát canh riêu
Tháng chạp
Lưng mẹ còng bước lệch bước xiêu
Nghe thảng thốt chiều nay gió mùa đông bắc
Con chưa về, vạt liếp thưa gió lùa ai thắt giùm nút lạt ?
Cuộc đời là hư vô**, mưa xóay vào câu hát
Trách mình như cánh chim di
Huế 12/1014
* Câu ca dao Lên non mới biết non cao
** Lời bài hát Xin thời gian qua mau của nhạc sĩ Lam Phương

BẾN ĐỜI

BẾN ĐỜI
=Trương Minh Sơn=

Tuổi xuân ngủ vùi…tóc bạc
Hương tình vẫn mãi tươi xanh
Vạt nắng trôi loang chiều tím
Ưu tư mang gửi cánh cò…

Nợ đời vay trả tỉnh say
Hư vô lạc lòng phù phiếm
Lợi danh bóng câu tìm kiếm
Vô thường nhân thế sắc không…

Ánh tà buông lòng đêm rộng
Lạc đường viễn mộng Nam Kha
Dốc đời hành trình xuôi ngược
Bại-thành-được-mất-về đâu…?

Bỏ ngỏ tóc sương điểm bạc
Chân mòn trên bước thời gian
Yêu thương mải mê ngày tháng
Bình yên neo bến…tím chiều…!



TUỔI THU

TUỔI THU
= Trương Minh Sơn=

Nhặt thời gian qua vàng thu vội vã
Năm mươi xuân lắng đọng những nhọc nhằn
Chợt nhận ra tuổi thu trôi nhanh quá
Ta lỡ nhịp đời khập khễnh bóng phù du

Thả lòng mình độc bộ dưới bóng thu
Tìm chút ngây ngô của thời thơ dại
Vân vê nắng hỏi bao giờ trở lại
Nhặt lá rơi gởi lại mối u hoài

Dòng đời miên man thu lạc lối dài
Trên ngõ cũ ai tiếc hoài ngọn gió
Vòng danh lợi ta gởi về ngõ nhỏ

Đếm tuổi thu hay nhịp trái tim mình

VỀ ĐÂU SƠN NỮ

CHẠNH LÒNG MẤY BẬN MỒ CÔI



CHẠNH LÒNG MẤY BẬN MỒ CÔI
=Hiếu Sương=

Bao nhiêu năm con xa nhà trọ học
Gởi yêu thương về thăm mẹ miền quê
Giữa phố đêm lặng lẽ tiếng tàu xe
Ánh trăng rơi hay đèn vàng ảo mộng...

Quãng đường xa mong manh miền gió lộng
Một vệt sao băng trên lối đi về
Lời ầu ơ...man mát những đêm hè
Ru hồn con...chắt chiu từng lời dặn...

Lệ nhạt nhòa khóe mi con đẫm mặn
Lời nhắn ngày nao có kịp giã từ
Mẹ buồn trông...con lặng lẽ ậm ừ...
Gói hành trang ngắm mây chiều lãng đãng

Con trở về bước trong sương chệnh choạng
Mắt bỗng xè cay ướt đẫm mây ngàn
Câu phân ly ai nỡ viết vội vàng
Cho yêu thương giờ muôn trùng cách biệt...?

Mấy năm ròng ngóng trông hoài trang viết
Tâm sự mẹ hiền trên những cánh thư...
Trắng khăn xô...đau đáu đến bao chừ
Con lạc lõng dỗi hờn câu muối mặn....!

Căn nhà xưa giờ bốn bề nến trắng
Trống vắng lòng...nước mắt rơi thầm lặng
Thổn thức tim mình gọi ai nghèn nghẹn
Lại một lần...con trẻ chịu mồ côi...!


Con đã về!...Nhưng vắng mẹ...Mẹ ơi...!

KỲ NHÂN Ở "ĐỘNG MAI VÀNG" ĐẠI LỘC

Kỳ nhân ở "động mai vàng"Đại Lộc

Hơn nửa thế kỷ trước, cây hoàng diệp mai lẻ loi ở xã lân cận được một thanh niên ngoài 20 tuổi làng Ái Mỹ (thị trấn Ái Nghĩa - Đại Lộc) mang về trồng. Sau ngần ấy năm, Ái Mỹ giờ trở thành một "động hoa vàng" của xứ Quảng. Mai Ái Mỹ đã trở thành "thương hiệu", bán hàng nghìn nhánh, gốc cho thị trường Quảng Nam, Đà Nẵng và ra tận thủ đô Hà Nội, thu về tiền tỉ.
“Cúi đầu lạy hoa mai”...
Cụ Bùi Đình Châu, người mang giống mai ở làng bên về trồng dạo nào, nay đã là ông lão 75 tuổi, được tôn xưng là người khai sinh làng mai. Cụ Châu dẫn tôi đi dạo quanh khu vườn nhà rộng gần nghìn mét vuông. Vườn nhà cụ Châu được xem là vườn mai "gốc" của làng Ái Mỹ, thuộc khu 8, thị trấn Ái Nghĩa. Cả khu có hơn 400 hộ dân thì xấp xỉ 300 hộ trồng mai trong vườn nhà. Có vườn chỉ vài chục cây, có vườn thì đếm không xuể: mai rậm cành xanh lá đã hơn ba trăm gốc, độ bảy tuổi thì xấp xỉ bốn trăm cây nữa, còn lại vô số... Đầu tháng chạp, các "thương lái mai" đã dong xe khắp các vườn mai. Con đường đất nhỏ làng Ái Mỹ nối với thị trấn Ái Nghĩa nườm nượp khách vào ra. Nhưng vẫn chưa ai chịu mua, chịu bán thời điểm này vì chẳng biết giá cả rồi sẽ lên xuống thế nào. Đến chừng 20 tháng chạp, người mua mai sớm nhất đã bắt đầu dứt nhánh. Mai Ái Mỹ ra chợ rải rác 2-3 ngày sau. Ai có mối hẹn trước thì thư thả đến sáng 30 mới lên chọn...
"Trồng mai lấy gỗ làm nhà" - phương châm mà anh giáo làng Bùi Đình Châu khi ngoài hai mươi tuổi đã theo đuổi khiến dân làng Ái Mỹ bán tín bán nghi. "Gỗ mai thì làm sao dựng được nhà, mà ý của tui là... bán mai, lấy tiền mua gỗ" - cụ Châu giải thích. Đã có thời cụ Châu đổi một gốc mai đẹp để lấy một cây gỗ mít! Thực ra mai Ái Mỹ nổi tiếng và có giá khoảng 15 năm trở lại đây, khá nhất độ trong vòng 10 năm, tự dưng mai vườn Ái Mỹ hút khách, mà khách chỉ ra vào mỗi vườn cụ Châu. Khi ấy, nhiều người mới "tin" lời cụ Châu, cùng mang mai về trồng, để rồi cái làng mai Ái Mỹ trẻ trung này giờ kín những mai là mai.
Ngày trước, Chu Thần Cao Bá Quát từng có thơ bày tỏ chí khí khảng khái, thanh bạch và cao thượng: "Nhất sinh đê thủ bái mai hoa" (Một đời chỉ chịu cúi đầu lạy hoa mai mà thôi). Người dân làng Ái Mỹ cũng "đê thủ bái mai hoa" nhưng theo cách khác: 85% gia đình nuôi con ăn học đến cao đẳng, đại học là nhờ vào nguồn thu nhập từ mai. Khi tôi đến thăm nhà ông Bùi Đình Bảo, cán bộ Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Đại Lộc thì một vài cây mai ở vườn đã trổ nụ sớm. Theo tính toán của một người làm nông nghiệp, mỗi sào đất vườn dân làng Ái Mỹ trồng chừng ba trăm cây. Sau 7-10 năm, với khoảng hai trăm cây mai bán ra thị trường trung bình năm trăm nghìn đồng mỗi cây đã thu về một trăm triệu đồng rồi. Vị chi mỗi năm một sào đất mai mang về mười triệu đồng. Một ha đất vườn trồng mai thu lợi hai trăm triệu đồng... Nhiều gốc đẹp được khách trả giá vài triệu đồng là chuyện thường. Năm ngoái, một thương lái trả cụ Châu 3 triệu đồng cho một gốc mai, và bán lại cho khách giá 5 triệu đồng sau đó ngay tại vườn này! Vợ chồng cụ Châu gom tiền bán mai mỗi năm một nhiều hơn: năm ngoái đã vài chục triệu đồng...
Nghề đếm lá, thưởng hoa
Giữa những cây mai lớn, hàng cách hàng 2 mét là những cây mai con gieo bán giống. Dân làng thậm chí còn "xen canh" giữa các hàng mai là những luống cải, cà, ớt... Riêng vườn nhà cụ Châu vốn dĩ là nơi cung cấp các loại giống cà, ớt, thuốc lá cho suốt một vùng đông bắc Quảng Nam và bao nhiêu năm nay gia đình cụ "sống" nhờ những giống ngắn ngày ấy. Mỗi khi khách đến mua giống về trồng, thấy mai đẹp bèn xin một cây con, thành thử giờ đây hầu như các vườn mai các làng lân cận, ở huyện Duy Xuyên, Quế Sơn, Điện Bàn, thậm chí ở Hòa Vang (Đà Nẵng) đều lấy giống từ vườn này. Cụ Châu quả là có duyên với hoa cỏ. Ông móm mém khoe rằng nhờ nghe lời khuyên của mình mà con gái chịu trồng mai, để giờ đây khi cháu ngoại vào học năm đầu đại học đã có "đồng ra đồng vô" nhờ bán mai hằng năm. Thời cụ Châu còn theo nghề cung ứng giống cà, ớt, thuốc lá, bán một năm ngồi ăn những 2-3 năm. Riêng chuyện trồng hoa vạn thọ bán Tết, một cây giá hai ang gạo, năm nào vợ chồng cụ cũng bán đến tận giao thừa, về nhà xổ túi đựng tiền ra đếm mệt nghỉ.
Mai vườn Ái Mỹ cũng thăng trầm. Có thời cây sắn quý hơn mai, nhiều nhà phải đốn hạ bớt. Hết sắn đến sa-pô-chê. Nhưng cuối cùng mai vẫn trở về vị trí "thượng tôn" của nó... Cách Tết chừng một tháng, cả làng Ái Mỹ đồng loạt trút lá mà chủ vườn gọi nôm na là "đếm lá". Mỗi việc "đếm lá" này thôi mà những vườn nhiều mai phải mất ba bốn chục công thợ làm mới kịp. Tất cả các gốc trong độ tuổi cho hoa đều xuống lá dù có bán hay vẫn bám rễ vườn nhà, để kịp mùa xuân vàng rực mai cho người thưởng thức... Mỗi độ xuân về, người làng mai Ái Mỹ khi đi thăm thú nhau cứ như đi trong bát ngát vàng mai, sướng không tả hết.
Ngoài giống hoàng diệp mai, giờ Ái Mỹ có thêm giống hồng diệp mai. Hồng diệp mai được chuộng vì khả năng chống bệnh, lại không trổ hoa sớm. Mai Ái Mỹ trở thành một "thương hiệu" bởi khi chưng trong bình không rụng cánh, không héo... mà ngay các chủ vườn cũng chẳng thể lý giải vì sao, họ chỉ đoán chừng do đất đai thổ nhưỡng. Có chủ vườn dắt tôi ra đến tận hàng rào chỉ những gốc mai có tuổi đời ngoài hai mươi năm mà lắc đầu: "Những cây trồng ven rào này lại đẹp hơn, phân cành khéo hơn những luống trồng ngay ngắn trong vườn". Giống mai thế mà lạ, có thể bán đi cả "tam đại". Ba tuổi mai bắt đầu nảy cây con. Đến chừng bảy tuổi khi bán đi (cưa sát gốc) thì sẽ lại có thêm cây mai mới sau bốn năm nữa. Rồi đến lượt người ta bán cả gốc, gốc đẹp có lúc giá cả vài triệu bạc chứ không rẻ. Còn hơn cả kế sinh nhai, cây mai đã ăn sâu vào tâm tưởng dân làng Ái Mỹ bởi cái đẹp thanh tao của nó.
Từ rất lâu rồi, nhiều người dân "thấm" cái vóc dáng quân tử cao sang của loài mai qua câu đối: "Trúc bất xung thiên, mai vô phủ địa" (Trúc có cao bao nhiêu cũng không đội trời, mai dù có mưa gió thế nào ngọn cũng không gục xuống đất). "Tui thích mai còn bởi thứ cây này tưởng là cành khô nhưng vẫn cứ trổ hoa, lạ lắm. Còn ngày xuân thì làm sao thiếu nó được? Tui không sành chuyện "bói mai", nhưng rõ ràng mai nở cũng báo được chuyện thịnh suy của gia chủ" - cụ Bùi Đình Châu trầm ngâm.
Kể cũng thú vị với "động mai vàng" xứ Quảng: từ những vườn nhà nơi đây, mai mang theo ý xuân đến khắp các chốn khác. Và rồi Ái Mỹ ngày càng xuân hơn, sung túc hơn nhờ vào thứ cây cứ tưởng chỉ để ngắm chơi này...
Hứa Xuyên Huỳnh