NGUYỄN VĂN NAM

  • Dấu chân qua vùng thơ ấu

    Mai em nhé! Anh đưa em về Quảng Gặp tuổi thơ đã mù xa năm tháng Uống giọt sương khi bình minh ló rạng Ai chợt gọi tên mình: Răng đi dữ rứa mi...!

  • Nửa đời nhặt bụi trần gian

    Mười năm, sau nữa...trò ơi ! Mười năm rũ bỏ rong chơi bến bờ... Thả hồn gọi mãi tuổi thơ Nhìn viên phấn trắng bạc phơ mái đầu

  • Quê hương mãi chốn đi về

    Ta về tìm nhặt ấu thơ Giữa đồng rơm rạ sương mờ dần sang Ta về tìm giữa mênh mang Bóng ai như thể bóng làng xa xa...

  • Một lần nợ cả mai sau...

    Người đem thế giới ngâm vào rượu. Ta lấy càn khôn nướng thế mồi

CHẠNH LÒNG MẤY BẬN MỒ CÔI



CHẠNH LÒNG MẤY BẬN MỒ CÔI
=Hiếu Sương=

Bao nhiêu năm con xa nhà trọ học
Gởi yêu thương về thăm mẹ miền quê
Giữa phố đêm lặng lẽ tiếng tàu xe
Ánh trăng rơi hay đèn vàng ảo mộng...

Quãng đường xa mong manh miền gió lộng
Một vệt sao băng trên lối đi về
Lời ầu ơ...man mát những đêm hè
Ru hồn con...chắt chiu từng lời dặn...

Lệ nhạt nhòa khóe mi con đẫm mặn
Lời nhắn ngày nao có kịp giã từ
Mẹ buồn trông...con lặng lẽ ậm ừ...
Gói hành trang ngắm mây chiều lãng đãng

Con trở về bước trong sương chệnh choạng
Mắt bỗng xè cay ướt đẫm mây ngàn
Câu phân ly ai nỡ viết vội vàng
Cho yêu thương giờ muôn trùng cách biệt...?

Mấy năm ròng ngóng trông hoài trang viết
Tâm sự mẹ hiền trên những cánh thư...
Trắng khăn xô...đau đáu đến bao chừ
Con lạc lõng dỗi hờn câu muối mặn....!

Căn nhà xưa giờ bốn bề nến trắng
Trống vắng lòng...nước mắt rơi thầm lặng
Thổn thức tim mình gọi ai nghèn nghẹn
Lại một lần...con trẻ chịu mồ côi...!


Con đã về!...Nhưng vắng mẹ...Mẹ ơi...!

KỲ NHÂN Ở "ĐỘNG MAI VÀNG" ĐẠI LỘC

Kỳ nhân ở "động mai vàng"Đại Lộc

Hơn nửa thế kỷ trước, cây hoàng diệp mai lẻ loi ở xã lân cận được một thanh niên ngoài 20 tuổi làng Ái Mỹ (thị trấn Ái Nghĩa - Đại Lộc) mang về trồng. Sau ngần ấy năm, Ái Mỹ giờ trở thành một "động hoa vàng" của xứ Quảng. Mai Ái Mỹ đã trở thành "thương hiệu", bán hàng nghìn nhánh, gốc cho thị trường Quảng Nam, Đà Nẵng và ra tận thủ đô Hà Nội, thu về tiền tỉ.
“Cúi đầu lạy hoa mai”...
Cụ Bùi Đình Châu, người mang giống mai ở làng bên về trồng dạo nào, nay đã là ông lão 75 tuổi, được tôn xưng là người khai sinh làng mai. Cụ Châu dẫn tôi đi dạo quanh khu vườn nhà rộng gần nghìn mét vuông. Vườn nhà cụ Châu được xem là vườn mai "gốc" của làng Ái Mỹ, thuộc khu 8, thị trấn Ái Nghĩa. Cả khu có hơn 400 hộ dân thì xấp xỉ 300 hộ trồng mai trong vườn nhà. Có vườn chỉ vài chục cây, có vườn thì đếm không xuể: mai rậm cành xanh lá đã hơn ba trăm gốc, độ bảy tuổi thì xấp xỉ bốn trăm cây nữa, còn lại vô số... Đầu tháng chạp, các "thương lái mai" đã dong xe khắp các vườn mai. Con đường đất nhỏ làng Ái Mỹ nối với thị trấn Ái Nghĩa nườm nượp khách vào ra. Nhưng vẫn chưa ai chịu mua, chịu bán thời điểm này vì chẳng biết giá cả rồi sẽ lên xuống thế nào. Đến chừng 20 tháng chạp, người mua mai sớm nhất đã bắt đầu dứt nhánh. Mai Ái Mỹ ra chợ rải rác 2-3 ngày sau. Ai có mối hẹn trước thì thư thả đến sáng 30 mới lên chọn...
"Trồng mai lấy gỗ làm nhà" - phương châm mà anh giáo làng Bùi Đình Châu khi ngoài hai mươi tuổi đã theo đuổi khiến dân làng Ái Mỹ bán tín bán nghi. "Gỗ mai thì làm sao dựng được nhà, mà ý của tui là... bán mai, lấy tiền mua gỗ" - cụ Châu giải thích. Đã có thời cụ Châu đổi một gốc mai đẹp để lấy một cây gỗ mít! Thực ra mai Ái Mỹ nổi tiếng và có giá khoảng 15 năm trở lại đây, khá nhất độ trong vòng 10 năm, tự dưng mai vườn Ái Mỹ hút khách, mà khách chỉ ra vào mỗi vườn cụ Châu. Khi ấy, nhiều người mới "tin" lời cụ Châu, cùng mang mai về trồng, để rồi cái làng mai Ái Mỹ trẻ trung này giờ kín những mai là mai.
Ngày trước, Chu Thần Cao Bá Quát từng có thơ bày tỏ chí khí khảng khái, thanh bạch và cao thượng: "Nhất sinh đê thủ bái mai hoa" (Một đời chỉ chịu cúi đầu lạy hoa mai mà thôi). Người dân làng Ái Mỹ cũng "đê thủ bái mai hoa" nhưng theo cách khác: 85% gia đình nuôi con ăn học đến cao đẳng, đại học là nhờ vào nguồn thu nhập từ mai. Khi tôi đến thăm nhà ông Bùi Đình Bảo, cán bộ Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Đại Lộc thì một vài cây mai ở vườn đã trổ nụ sớm. Theo tính toán của một người làm nông nghiệp, mỗi sào đất vườn dân làng Ái Mỹ trồng chừng ba trăm cây. Sau 7-10 năm, với khoảng hai trăm cây mai bán ra thị trường trung bình năm trăm nghìn đồng mỗi cây đã thu về một trăm triệu đồng rồi. Vị chi mỗi năm một sào đất mai mang về mười triệu đồng. Một ha đất vườn trồng mai thu lợi hai trăm triệu đồng... Nhiều gốc đẹp được khách trả giá vài triệu đồng là chuyện thường. Năm ngoái, một thương lái trả cụ Châu 3 triệu đồng cho một gốc mai, và bán lại cho khách giá 5 triệu đồng sau đó ngay tại vườn này! Vợ chồng cụ Châu gom tiền bán mai mỗi năm một nhiều hơn: năm ngoái đã vài chục triệu đồng...
Nghề đếm lá, thưởng hoa
Giữa những cây mai lớn, hàng cách hàng 2 mét là những cây mai con gieo bán giống. Dân làng thậm chí còn "xen canh" giữa các hàng mai là những luống cải, cà, ớt... Riêng vườn nhà cụ Châu vốn dĩ là nơi cung cấp các loại giống cà, ớt, thuốc lá cho suốt một vùng đông bắc Quảng Nam và bao nhiêu năm nay gia đình cụ "sống" nhờ những giống ngắn ngày ấy. Mỗi khi khách đến mua giống về trồng, thấy mai đẹp bèn xin một cây con, thành thử giờ đây hầu như các vườn mai các làng lân cận, ở huyện Duy Xuyên, Quế Sơn, Điện Bàn, thậm chí ở Hòa Vang (Đà Nẵng) đều lấy giống từ vườn này. Cụ Châu quả là có duyên với hoa cỏ. Ông móm mém khoe rằng nhờ nghe lời khuyên của mình mà con gái chịu trồng mai, để giờ đây khi cháu ngoại vào học năm đầu đại học đã có "đồng ra đồng vô" nhờ bán mai hằng năm. Thời cụ Châu còn theo nghề cung ứng giống cà, ớt, thuốc lá, bán một năm ngồi ăn những 2-3 năm. Riêng chuyện trồng hoa vạn thọ bán Tết, một cây giá hai ang gạo, năm nào vợ chồng cụ cũng bán đến tận giao thừa, về nhà xổ túi đựng tiền ra đếm mệt nghỉ.
Mai vườn Ái Mỹ cũng thăng trầm. Có thời cây sắn quý hơn mai, nhiều nhà phải đốn hạ bớt. Hết sắn đến sa-pô-chê. Nhưng cuối cùng mai vẫn trở về vị trí "thượng tôn" của nó... Cách Tết chừng một tháng, cả làng Ái Mỹ đồng loạt trút lá mà chủ vườn gọi nôm na là "đếm lá". Mỗi việc "đếm lá" này thôi mà những vườn nhiều mai phải mất ba bốn chục công thợ làm mới kịp. Tất cả các gốc trong độ tuổi cho hoa đều xuống lá dù có bán hay vẫn bám rễ vườn nhà, để kịp mùa xuân vàng rực mai cho người thưởng thức... Mỗi độ xuân về, người làng mai Ái Mỹ khi đi thăm thú nhau cứ như đi trong bát ngát vàng mai, sướng không tả hết.
Ngoài giống hoàng diệp mai, giờ Ái Mỹ có thêm giống hồng diệp mai. Hồng diệp mai được chuộng vì khả năng chống bệnh, lại không trổ hoa sớm. Mai Ái Mỹ trở thành một "thương hiệu" bởi khi chưng trong bình không rụng cánh, không héo... mà ngay các chủ vườn cũng chẳng thể lý giải vì sao, họ chỉ đoán chừng do đất đai thổ nhưỡng. Có chủ vườn dắt tôi ra đến tận hàng rào chỉ những gốc mai có tuổi đời ngoài hai mươi năm mà lắc đầu: "Những cây trồng ven rào này lại đẹp hơn, phân cành khéo hơn những luống trồng ngay ngắn trong vườn". Giống mai thế mà lạ, có thể bán đi cả "tam đại". Ba tuổi mai bắt đầu nảy cây con. Đến chừng bảy tuổi khi bán đi (cưa sát gốc) thì sẽ lại có thêm cây mai mới sau bốn năm nữa. Rồi đến lượt người ta bán cả gốc, gốc đẹp có lúc giá cả vài triệu bạc chứ không rẻ. Còn hơn cả kế sinh nhai, cây mai đã ăn sâu vào tâm tưởng dân làng Ái Mỹ bởi cái đẹp thanh tao của nó.
Từ rất lâu rồi, nhiều người dân "thấm" cái vóc dáng quân tử cao sang của loài mai qua câu đối: "Trúc bất xung thiên, mai vô phủ địa" (Trúc có cao bao nhiêu cũng không đội trời, mai dù có mưa gió thế nào ngọn cũng không gục xuống đất). "Tui thích mai còn bởi thứ cây này tưởng là cành khô nhưng vẫn cứ trổ hoa, lạ lắm. Còn ngày xuân thì làm sao thiếu nó được? Tui không sành chuyện "bói mai", nhưng rõ ràng mai nở cũng báo được chuyện thịnh suy của gia chủ" - cụ Bùi Đình Châu trầm ngâm.
Kể cũng thú vị với "động mai vàng" xứ Quảng: từ những vườn nhà nơi đây, mai mang theo ý xuân đến khắp các chốn khác. Và rồi Ái Mỹ ngày càng xuân hơn, sung túc hơn nhờ vào thứ cây cứ tưởng chỉ để ngắm chơi này...
Hứa Xuyên Huỳnh


DI TÍCH TRẦN CAO VÂN HOẠT ĐỘNG Ở ĐẠI LỘC

Di tích Trần Cao Vân hoạt động tại Đại Lộc


Trần Cao Vân là một trong những người cầm đầu âm mưu khởi nghĩa tại Trung Việt, do Việt Nam Quang Phục Hội chủ xướng. Ông sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Làng Tư Phú là một trong mười một làng thuộc khu đất "Gò Nổi", một khu đất sản xuất ra nhiều bậc anh tài của xứ sở như Phạm Phú Thứ, Hoàng diệu  v.v.. Ông là con cụ Trần Trung Trực, thường gọi là cụ Quyền Trực, một người được sự mến chuộng của dân làng Tư Phú và cụ bà Đoàn Thị.
Trần Cao Vân tên thật là Trần Công Thọ, lúc lớn lên từng học và đi thi lấy tên là Trần Cao Đệ, lúc vào chùa lấy pháp danh là Như Ý, khi ra hoạt động cách mạng đổi tên là Trần Cao Vân, biệt hiệu là Hồng Việt và Chánh Minh, còn có biệt danh là Bạch Sĩ. Theo những người đồng thời kể lại: Trần Cao Vân có vóc dáng trung trung, mặt vuông, trán cao, đôi mắt sâu và sáng, năm chòm râu dài tha thướt trông thật uy dũng.
Thường nhật ông có tánh bình dị, không chuộng sự xa hoa. Lúc thiếu thời không kể, nhưng từ khi được 21 tuổi, ngày mà ông bắt đầu ly hương cho đến ngày từ giã cuộc đời, ông đã trải qua nhiều giai đoạn: từ một nho sĩ, một đạo sĩ rồi đến một nhà cách mạng, ông sống một cuộc đời thanh đạm. Luôn luôn ông mặc một cái áo vải ta nhuộm màu xanh chàm, bịt khăn nhiễu thâm, đội chiếc nón lá, ngoài ra không có thêm một trang phẩm nào cả. Tuy là một nhà cách mạng, nhưng Trần Cao Vân rất nổi tiếng về văn chương thi phú. Lúc thiếu thời, khi còn là một thư sinh. ông tỏ ra xuất sắc nhất. Năm 13 tuổi, một hôm thầy học ra câu đối cho học trò tập làm bài. Nhìn thấy giữa lớp học có một cây đèn treo, thầy ra câu đối:
Đèn treo giọi sáng bốn phương nhà
Tuy nhỏ tuổi nhất lớp, nhưng lanh trí Cao Vân đã lên tiếng:
"Trăng tỏ khắp soi muôn cụm núi"
Có lần vào lúc tháng mười âm lịch. Cao Vân đến nghe giảng sách ở nhà cụ Cử. Sau buổi giảng sách xong, có người láng giềng đưa đến biếu bà cụ một mớ hành hương để làm giống. Bà cụ bảo: Hành này còn non mà tàn sớm e giống khổng mạnh (khổng là do tiếng không đọc trại ra, tiếng nói địa phương Quảng Nam, ngay tại miền Nam tiếng không ở miền quê vẫn đọc là "hổng" hay "khổng". Cũng như: Tôi hổng biết hay Tôi không biết nó đi đâu mất rồi). Cụ Cử nghe câu nói hay hay, liền lấy ý ấy ra câu đối cho học trò làm:
"Hành tàn giống khổng mạnh"
Câu đối này có hai nghĩa:
1- Nghĩa đen: Giống hành hay tàn không tốt
2- Nghĩa bóng: Lúc tiến lúc thoái đều theo đạo Khổng Mạnh
(Hành tàn đồng âm với Hành tàng, tức hành động và đi ở ẩn - Khổng mạnh đồng âm với Khổng Mạnh, tức Khổng Tử và Mạnh tử trong nho giáo).
Nghe xong Trần Cao Vân ứng khẩu đối lại:
"Cải hóa con càng khôn".
Câu đối này có hai nghĩa:
1- Nghĩa đen: Rau cải nảy nở càng tốt (vì cải con "hoá" tức là nẩy nở lên, "càng khôn", tức là càng tốt)

2. Nghĩa bóng: Làm người cần phải biết thay dổi, cách mạng để tiến hóa theo biến dịch của vạn vật (Cải hóa: thay đổi, tiến hóa, càn khôn, đồng nghĩa với càn càn khôn. Theo lối đối miệng (ứng khẩu) ngày trước các cụ thưòng dùng cách mượn âm)
Cụ cử và các môn đệ đều tán thưởng tài của Cao Vân không ngớt lời. Chẳng mấy lúc mà câu đối trên được truyền tụng khắp các vùng Bình Định, Quảng Nam.
Làm bài thơ "vịnh chiếc cối xay" Trần Cao Vân đã bày tỏ thân thế một cách rõ rệt. Mồ côi mẹ từ lúc tuổi còn nhiều hứa hẹn, sống trong gia đình tẻ nhạt khô khan vì thiếu tình mẫu tử, đến năm Cao Vân được 20 tuổi là năm mà nước nhà rơi vào cảnh đen tối, nhục nhã. Kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn, đó cũng chính là năm mà Cao Vân đặt bước phiêu lưu.
Khen ai xưa đã khéo trêu bày,
Bạn cối này ta vốn để xaỵ
Góc Tì kiền khôn trồng giưã rốn,
Cán Dần tinh đầu vận trong taỵ
Nghiên rằng tựa sâm ỳ ầm dậy,
Mở miệng đường mưa lác đác bay
Tứ trụ dưới nhờ chơn đế vững
Cùng trên phụ bật sẵn hai tay


(Vịnh Cái Cối Xay)
Trong Đạo thư có câu: Thiên thai ư Tý, địa tịch ư Sửu, nhân sinh ư Dần. Gốc Tý: chỉ ngôi trời, Cán Dần: chỉ người. Ý nói mọi việc đều do ý trời và lòng người hợp lại mới mong thành tựu.
Năm 1882, Cao Vân được cùng các sĩ tử dự lễ dám táng của Hoàng Diệu Tổng Trấn Bắc Thành, khi linh cửu được đưa về làng Xuân Đài, tỉnh Quảng Nam. Tiếp đến là những cái tang của vua Tự Đức và cảnh đất nước chìm đắm trong khói lửa xâm lăng của Pháp. Sau đó, Cao Vân lại vào chùa Cổ Lâm tại làng An Định, huyện Đại Lộc, thuộc miền thượng du tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian này, Cao Vân quen với Võ Thạch, tức là Thừa Tô, con trai của cụ Cai Tổng Trưng Chính trong sự kết thân này mà ông Thừa Tô đã đem em gái là Võ thị Quyền. tục gọi là cô Ba Bàn gả cho Cao Vân. Có một dạo Cao Vân ngồi dạy học tại làng Đại Giang, kế cận làng An Định, cũng gọi là Bồ Phan. Trong thời gian làm đạo sĩ tại cổ Lâm tự, Cao Vân đã làm một bài thơ như sau:
Chí quyết tan bồng vỡ bốn phương,
Chồng nằm chi để ghé râu vương.
Ba thù quyết trả đền ơn trọng,
Một giân mong ra gỡ tiếng ương.
Nợ nước đã toan tròn nghĩa vụ,
Tình nhà đánh gác nỗi tư lương.
Nam mô nguyện trả xong rồi nợ
Mối thành đem về cõi Hạ Thương.
Vào khoảng tháng 9 năm 1915, Trần Cao Vân được Việt Nam Quang Phục Hội ủy nhiệm cùng bạn đồng chí là Thái Phiên tiếp xúc với vua Duy Tân để mời nhà vua tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp.
Trần Cao Vân và Thái Phiên đã tìm đủ mọi cách đưa Phan Hữu Khánh vào làm tài xế cho vua Duy Tân để thực hiện được chương trình giao phó. Trong dịp này, Phan Hữu Khánh đã dâng lên vua Tự Đức một bức thư đại ý tâu trình lên vua những thảm trạng của đất nước và sự nô lệ của dân tộc và nguyện vọng của dân chúng mong muốn khôi phục lại nền độc lập của quốc gia. Xem thư xong, vua Duy Tân vô cùng cảm động và mong ước được hội kiến với các nhà ái quốc để luận bàn quốc sự.
Ngày 12 tháng 3 âm lịch (1916), Cao Vân và Thái Phiên giả làm người đi câu, đến tìm gặp vua Duy Tân trên Ngự Hà và hoạch định chương trình khởi nghĩa cứu quốc. Sau đó, ít lâu Cao Vân và Thái Phiên được bầu vào ủy ban khởi nghĩa tại kinh đô Huế trong dịp tiếp xúc nhà vua lần thứ haị Thái Phiên giữ chức chủ tịch và Cao Vân làm chức quân sự Lúc đầu cuộc tổng khởi nghĩa định vào giờ Ngọ, ngày Ngọ, tháng Ngọ tức là ngày mồng 2 tháng 5 năm Bính Thìn (nhằm ngày 8 tháng 6 năm 1916). Trần Cao Vân đã làm bài thơ "Hỏa Xa Quế Hàn" dưới đây để ra hiệu lịnh mật cho các nơi:
Một nỗi xa thơ đã biết chưa ?
Bắc Nam hai ngã gặp nhau vừa,
Đường rầy đã sẵn thang mấy bước.
Ống khói càng cao ngọn gió đưa.
Sầm dậy tứ bề trăm máy chuyển,
Phút thâu muôn dặm nửa giờ trưa
Trời sai ra dọn xong từ đấy,
Một mối xa thơ đã biết chưa ?
Nhưng sau đó, theo quyết nghị chung, vì trường hợp khẩn cấp, phải khởi nghĩa trước một tháng, vào đêm mùng 2 tháng 4 năm Bính Thìn, tức ngày 3 tháng 5 năm 1916. Nhưng ngay chiều mồng 1 âm mưu bị bại lộ, quân Pháp đã áp dụng những biện pháp đề phòng rất gắt. Trần Cao Vân và Thái Phiên không ngờ vực gì cả, cứ theo như kế hoạch đã định đưa vua Duy Tân ra khỏi hoàng thành. Vua Duy Tân và Thái Phiên bị bắt gần cửa Nam Giao (Huế), còn Trần Cao Vân cũng bị bắt tại Hà Trung thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.
Ngày 17 tháng 5, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Hữu Khánh và mấy người lính hầu vua Duy Tân bị xử chém tại An Hoà (phiá Tây Bắc Thành Nội Huế), nhằm ngày 16 tháng 4 năm Bính Thìn. Trần Cao Vân hưởng thọ 51 tuổi.
Trong lúc bị giam tại nhà lao Huế, trước ngày ra pháp trường lên đoạn đầu đài đền nợ non sông, Trần Cao Vân có làm hai bài thơ tuyệt mệnh.
Trung lập kiền khôn bất ý thiên
Việt Nam văn vật cổ lai truyền.
Quân dân cọng chủ tinh thần hội,
Thần tử tôn châu nhật nguyệt huyền,
Bách Việt Sơn Hà vô bạch xỉ,
Nhất trang trung nghĩa hữu thanh thiên.
Anh hùng đề cục hưu thành bại,
Công luận thiền thu phó sử biên


(Bài thứ nhất)
Bản dịch Nôm của Hành Sơn:
Giữa trời đứng sững không thiên,
Nghìn năm nước Việt còn truyền sử xanh.
Chu vương nhân chính đại hành
Quân dân hợp sức lũy thành đắp xâỵ
Người thù non nước còn đây,
Trời xanh với tấm lòng nầy tương trị
Anh hùng thành bại xá gì,
Nghìn thu lịch sử còn ghi lại đời
VỊNH TAM TÀI
Trời dất sinh ta có ý không ?
Chưa sinh trời đất có ta trong
Ta cùng trời đất ba ngôi sánh,
Trời đất in ta một chữ dồng.
Đất nước ta ra trời chuyển động,
Ta thay trời mở đất mênh mông.
Trời che đất chở ta thong thả,
Trời đất ta đầy đủ hóa công.
(Bài thứ hai)
Một người vô danh đã khóc Trần Cao Vân bằng 4 câu thơ dưới đây:
Hy tiên văn hậu thử chân thuyên
Biệt tự trung gian tạo nhất thiên
Học thuyết năng tương tiên huyết nhiệm
Nam phương tân dịch tích vô truyền
Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch Nôm:
Văn sau Hy trước vẫn kinh này,
Riêng giữa "trung thiên" đứng một tay,
Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm,
Trời Nam dịch mới tiếc không thầỵ
Về văn thơ cuả Trần Cao Vân, ngoài những bài trên đây, còn những câu đối, những bài thơ đa số đều bộc lộ những lời lẽ ái quốc của một nhà cách mạng. Nhân cụ Châu Thơ Đồng, tức Châu Thượng Văn nhịn đói mà thác tại nhà lao Thừa Phủ Huế, vì việc nhân dân kháng thuế tại Trung Kỳ mà cụ đứng ra nhận chịu là chính cụ khởi xướng. Khóc cụ Châu Thơ Đồng, Trần Cao Vân làm câu đối:
Ngã bất năn xã sinh !
Nại hà tai "Trung thiên dịch" sơ khai,
Du lý thất niên tiền vị điền
Quân nãi năn tựu nghĩa !
Nan đắc giả vạn thế kinh độc thủ
Thú Dương thiên tài hậu du văn
Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch Nôm:
Ta có tiếc sống đâu !
Ngặt vì địch "Trung thiên" mới mở đầu,
Du lý bảy năm chưa kịp điền.
Người hẵn theo nghĩa đấy !
Khó nhất kinh muôn đời hay giữ chắc,
Thú Dương nghìn thuở vẫn còn nghe
Trong đơì làm cách mạng, Trần Cao Vân bao lần vào tù ra khám. Liên lụy vì cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ, ông bị giam 11 tháng tại nhà lao tỉnh Phú Yên. Sau đó vì vụ án "Trung thiên dịch" (Nguyên Kinh Dịch, tương truyền, là do vua Phục Hy thời cổ (khoảng 4000 năm trước Tây Lịch) làm ra gọi là dịch "Tiên Thiên). Kế tiếp vua Văn Vương bày ra Dịch "Hậu Thiên", Chu Công và Khổng Tử phụ thêm vào các lời Hào Từ, Thoán Từ, Văn Ngôn, Hệ Từ, Thuyết Quái, Tự Quái, Tạp Quái. v.v... để bàn rộng ý nghĩa Kinh Dịch của Phục Hỵ
Từ đời nhà Hán đến đời nhà Thanh, rất nhiều học giả Tàu tranh luận sôi nổi về Kinh Dịch "Tiên Thiên" và "Hậu Thiên" nhưng chưa có người nào bàn ra ngoài hai thể tài trên. Ngay cả các bậc túc Nho bác học như Trình Di, Chu Hy đời nhà Tống cũng chưa dám có ý kiến riêng ngoài "Tiên Thiên" và "Hậu Thiên". Nghiên cứu về Kinh Dịch trong lúc còn ở tại chùa Cổ Lâm ở làng An Định (Quảng Nam), Trần Cao Vân lại xướng lên Dịch "Trung Thiên", nghĩa là đem Dịch "Tiên Thiên" của Phục Hy hợp lại với Dịch "Hậu Thiên" của Văn Vương, nhưng mãi đến ngày nay không mấy ai hiểu rành thuyết lý "Trung Thiên Dịch" của ông cả. Trần Cao Vân lại có tài xem tướng số rất giỏi, không bao lâu mà thiên hạ hai tỉnh Bình Định, Phú Yên xem ông như một nhà tiên tri đại tài. Có người tâng bốc cho ông là một người có tài nham độn xuất quỷ nhập thần. Mọi người đua nhau theo thuyết "Trung thiên dic.h" của ông và trong nhà viết 6 chữ: bên tả hai chữ "Tiên Thiên", bên hữu hai chữ "Hậu Thiên" và chính giữa hai chữ "Trung Thiên" để hàng ngày chiêm ngưỡng. Số người lui tới Trần Cao Vân ngày càng đông. Trong dân chúng cứ đua nhau thì thầm bàn tán về "Trung Thiên Dịch". Nhà chức trách địa phương vô cùng lo sợ, vì mới đó không lâu giặc Võ Trứ vừa mới dẹp yên, nay nếy xảy ra việc lôi thôi ắt phải bị triều đình khiển trách nặng nề. Vì thế Bố Chánh Buì Xuân Huyến truyền bắt Cao Vân và bà vợ cùng với người đệ tử Nguyễn Nhuận hạ ngục. Hôm bắt Trần Cao Vân lập lời khai trước công đường có trải chiếc chiếu, bỗng từ đâu có một cong cóc nhảy vàọ Muốn hạ nhục Cao Vân, Bố Chánh Huyến bảo ông phải làm bài thơ vịnh con cóc. Cao Vân viết ngay:
Muốn vật thân ta nghĩ lại càng,
Nỗi mình trông thấy cóc ngồi hang
Áo sồi một tâm trời che đậy,
Hang thẳm mây từng đất mở mang.
Giếng ếch nó thèm đua lặn hụp Cung
Thiềm riêng ở mặc nghinh ngang.
Nghiến răng sấm dậy chừng ra cửa,
Lưỡi quét xong rồi kiến thảy tan.
Biết Cao Vân có ý mỉa mai và ngạo mạn sỉ vả mình, Bố Chánh Huyền truyền đem phạm nhân tra khảo bảo cung khai về tội xúi dân làm loạn, nêu lên thuyết "Trung Thiên Dịch". Huyến lại đệ trình về kinh xin tuyên án tử hình Trần Cao Vân, nhưng nhờ có một số người muốn che chở, cho nên bản án được phê: 3 năm khổ saị Cao Vân bị giam tại ngục Bình Định, bà vợ cũng bị phạt tù và rei^ng thân phụ của ông bị phạt 40 đồng vì đã không dạy dỗ con nghiêm chỉnh. Vừa mãn tù 3 năm ở khám ra chưa được bao lâu, nhân có cuộc kháng thuế và xin miễn xâu tại tỉnh Quảng Nam vào tháng hai Năm Mậu Thân (1908), vừa tảng sáng đang ở nhà lao Quảng Nam. Ông không hiểu vì lẽ gì mình bị bắt giam, mãi đến mấy ngày sau mới rõ là do việc dân xin miễn xâu tại Quảng Nam mà ông nghi ngờ là có nhúng tay xúi giục. Tòa án Nam triều tỉnh Quảng Nam kết tội các thân sĩ là "hô hào dân trí cổ võ dân quyền" chính là mầm mống xúi dân làm loạn. Án lịnh được thi hành và ngày mồng 8 tháng 8 năm Mậu Thân (1908) những chuyến tàu đưa các thân sĩ đày ra Côn đảọ Riêng Trần Cao Vân còn phải chờ điều tra bổ túc ở hai tỉnh Bình Định và Phú Yên, rồi cũng bị kết án chung thân khổ sai đày ra Côn đảo vào năm sau, tức năm Kỷ Dậu (1909). Lần ra đi này không giống như những lần trước, vì bản án "Chung thân khổ sai" (Nhưng về sau được ân xá và ông chỉ ở tại Côn đảo 6 năm thôi). Nghĩ đến tiên đồ tổ quốc, đến vận nước khinh nguy, nghĩ đến ngày mai đen tối của dân tộc, Trần Cao Vân vô cùng đau đớn. Hai bài thơ dưới đây nói lên tấm lòng người thương nước mến dân trong những ngày bị lưu đày nơi hải đảo:
Bài Thứ nhất
Vấn dư hà sự đáo Côn Lôn ?
Tứ vọng thương mang ỷ ngục môn
Trung quốc vị thù nam tử trái
Hiếu gia du hám lão thân tồn !
Ngư thơ hải ngoại truyền tâm huyết,
Kình hống thiên biên tỉnh mộng hồn.
Hồng Lạc hôi tư khai Việt tổ,
Thử thân thệ hữu thử kiền khôn
Dịch Nôm:
Có gì ta lại đến Côn Lôn ?
Trời bể mênh mang tựa ngục trông.
Thù nước chưa nguôi cơn báo phục,
Thảo thân khôn thấu nỗi hàn ôn !
Cá đi muốn gởi lời tâm huyết,
Sóng vỗ như khuya giấc mộng hồn.
Nhớ tổ Lạc Hồng công dựng nước,
Thân này thệ nguyện với kiền khôn !
Bài Thứ nhì
Phương châm vị định thốn tâm huyền,
Đa tích nhiệt thành dĩ hữu niên,
Bất đáo Côn Lôn chân lạc địa,
Yên trí hoàn hải đại toàn thiên.
Ngô đồ lạc lạc hưu đa thán,
Tạo chủ thương thương tự hữu quyền
Tối thị anh hùng ma luyện xứ
Cổ kim kỳ cục hựu kỳ duyên
Dịch nôm
Phương châm chưa định dạ chưa yên,
Tâm sự bao năm chửa phỉ nguyền.
Chẳng đấn Côn Lôn nơi thắng cảnh,
Biết đâu hoàn hải cõi toàn thiên
Khuyên cùng bè bạn đừng ta thán,
Đã có cao xanh tự chủ quuyền.
Rèn đúc anh hùng đây đã sẵn,
Nghìn xưa kỳ cuộc cũng kỳ duyên
(bản dịch của Hành Sơn)
Sau đây là những bài thơ của Trần Cao Vân còn lưu lại:
Vịnh Bà Cờ Thắng
Đừng quen pháo mạnh vọt ngang cung,
Mệnh tướng truyền ra sĩ vẫy vùng.
Voi ngự thân chinh toan mở nước,
Binh triều ngự giá giục sang sông.
Xe liên vạn sát kinh tài cả,
Mã nhựt song trì mặc sức tung.
Sau trước trong tay rành rỏi nước,
Cờ cao Hán tổ đễ đua cùng.
Vịnh Hòn Ông, Hòn Bà
(Tại tỉnh Phú Yên (Trung Việt) có hai quả núi cao vút, sừng sững dối nhau, tục gọi là "Hòn chồng Đực, Hòn chồng Cái" hay "Hòn Ông, Hòn Bà". Trần Cao Vân lấy tên núi ấy làm 8 câu thơ dưới đây:
Đất nén trời nung khéo định đôi,
Hòn chồng Đực, Cái, sánh hai ngôi
Ông xây nên đống cây trồi mụt,
Bà đúc y khuôn đá mọc chồi.
Mây núi phủ giăng màn tịnh túc,
Nước khe hầu rót chén giao bôi.
Non thề giai lão trơ trơ đấy,
Gió chẳng lung lay sóng chẳng nhồi

Vịnh con tôm
Loài ở nghe lộn bùn mọc râu,
Ngo ngoe có biết mốc gì đâu ?
Cong lưng cứ ỷ tài đâm bắn,
Ló mặt khôn dò lạch cạn sâu,
Ngoài ủ lom xom càng múa gọng,
Trong oi sùn sụt đít co đầụ
Dỡn rồng ta bảo đừng quen thói,
Một nhũi là xong lựa, tát câu
Vịnh vợ chồng lái đò
Mặc ai chài lưới chẳng thèm lo,
Chưa gặp thời âu tạm chống đò.
Sông rộng lão toan cầm lái vững,
Lạch sâu mụ hãy cắm sào dò.
Dân trời đưa rước ngày thong thả,
Lộc nước ăn nhờ bửa ấm nọ
Buồm thuận gió hồng khi đỗ bến,
Vợ chồng một giấc ngáy kho khọ
Vịnh Hòn Vay, Hòn Trả
(Hòn núi này tại tỉnh Phú Yên Trung Việt)
Ai nhủ hỏi đòi khéo lá lay
Ở qua Hòn Trả bởi vì Vay,
Tờ mây bóng rợp bà so chỉ,
Nợ nước ơn đền ông phủi taỵ
Ngày tháng rảnh chân muốn cụm bước,
Cỏ cây dâng lộc bốn mùa thaỵ
Khách giang hồ những tha hồ mượn,
Lân Hải Vân rồi đó sẽ haỵ
Vịnh ông trời n... c... (Động cỡn)
(Nguyên tại Phú Yên vào khoảng cuối tháng ba tiết trời nắng hạn, ít khi mưạ Mùa này nông dân gặt lúa đem về phơi để đổ vào bồ. Vì biết trời không mưa, nên họ phơi lúa bừa bãi khắp nơị Một hôm, bỗng nhiên trời mưa làm ướt tất cả lúa thóc. Nhiều người cộc cằn thô lỗ đã buộc miệng ó lên: Ông trời n... c... Bấy giờ Trần Cao Vân đang ngồi giảng sách cho học trò, nghe câu nói tục tằn, nhưng xét ra có triết lý thú vị, ông liền muợn đầu để làm bài thơ Đường luật)
Từ xưa Thái cực đúc nên hòn,
Mới biết ông trời c... thẳng bon.
Gù mông vổng nằm nang gốc bể,
Ngũ mây sựng đứng trất đâu non.
Nhởn nhơ đì gió trên qua lại,
Thấp thoáng mườn trang ghẹo méo tròn.
Hang nguyệt ước rờ cha chả sướng.
Đẻ vua rồi lại chán tội con.

Gởi cho bà Trần Cao Vân
Xe trở bánh gần hết khúc co,
Trông chồng chi lắm mặt buồn teo,
Thân chàng chắc vững không nao núng,
Dạ thiếp đừng lo chú mẻo meo.
Trướng liễu xũ màn khuyên hãy giấc,
Vườn đào sẵn giếng để rồi gieo,
Thung dung mặc sức cùng nhau sẽ.
Chót núi thôi đừng ngó mỏi nheo.

Nguồn: http://dailoc.org/node/86 

HÁT BỘI Ở QUẢNG NAM


Hát bội ở Quảng Nam

=Hoàng Châu Ký=


Ngành hát bội ở Quảng Nam có một huyền thoại như sau:
Làng Mỹ Lưu ở đầu nguồn sông Thu Bồn có một gánh hát nổi tiếng. Mùa đông nọ có cơn lụt lớn tràn qua làng này và cuốn trôi cái trống nhạc của gánh hát ấy. Cái trống trôi dạt vào làng này rồi lại trôi dạt vào làng khác, cuối cùng dạt vào phố Hội An rồi ra biển. Từ đó gánh hát ở Mỹ Lưu không tồn tại nữa và những nơi mà chiếc trống ấy dạt vào chốc lát lại dần dần hình thành và phát triển phong trào biểu diễn nghệ thuật tuồng.

Bóc cái vỏ huyền thoại đi, ta có thể nhận thức rằng nội dung câu chuyện đó phản ánh tình hình Hát Bội ở Quảng Nam xuất phát ở miền Trung Du, bán sơn địa rồi lan dần ra các huyện đồng bằng, trước hết là các vùng có thuận lợi về giao thông đường bộ.

Theo tư liệu mà ta có đến nay thì hai cái “nôi” của Hát Bội Quảng Nam là hàng Khánh Thọ ở Tam Kỳ và làng Đức Giáo ở Quế Sơn. Một bia đá ở Khánh Thọ ghi rằng khánh thành cái đình làng này vào thời Thiệu Trị, có tổ chức Hát Bội. Như thế có nghĩa là nghệ thuật này đã có mặt ở vùng đó từ trước khá lâu, đến lúc ấy đã hoàn chỉnh ở mức độ nhất định.

Làng Đức Giáo thì có lý tưởng, có bộ đinh nhưng không có bộ điền, ở ngụ làng khác thuộc xã Quế Hiệp hiện nay. Nhân dân ở vùng đó có truyền tụng câu sau đây: “Đức giáo vô địa lập chùy, dĩ xướng ca ví nghệ” (1). Làng này có bốn tộc, lần lượt người của mỗi tộc thay nhau làm lý trưởng và ai làm lý tưởng thì kiêm luôn chức vụ bầu gánh Hát Bội.

Khi nghệ thuật đã phát triển khắp tỉnh thì chia làm hai chí lưu gọi “Tuồng Đàng Bộ” và “Tuồng Đàng Nước”.

Nhiều nơi vào các dịp Xuân Kỳ thu tế thì thường rước các gánh hát Đàng bộ đến diễn, cho rằng tuồng Đàng bộ có nhiều âm thức. Nhưng vào những dịp vui lại rước các gánh tuồng Đàng nước... cho rằng những gánh này hát hay, phục trang đẹp.

Chúng ta hiểu rằng quan niệm “Âm đức” nói trên có nghĩa là tuồng Đàng bộ thời ấy diễn chơn chất, giữ truyền thống xưa, không có cải cách.
Tuồng Đàng nước do giao lưu nhiều nên có những cải cách trên cơ sở kế thừa truyền thống. Nói cách khác là tuồng Đàng nước phát triển theo đúng quy luật khách quan của nghệ thuật một cách tự phát.

Ta vừa nói về lịch sử, xin thêm rằng người được phong chức vụ chánh quản ca đầu tiên là ông Quản Lan, một nghệ sĩ lỗi lạc ở Tam Kỳ. Trường hát đầu tiên ở tỉnh cũng ở Tam Kỳ, do chính ông Quản Lan xây dựng, trước lợp tranh sau lợp ngói. (Trước đây gọi trường hát là rạp được xây dựng cố định, gọi rạp là dựng tạm để diễn một đợt nào đó rồi phá dỡ).
Hiện nay ta chưa xác định được sự phân lưu nói trên diễn ra từ lúc nào, nhưng chắc chắn là tình hình này diễn ra một cách tiệm tiến lâu ngày, rồi dần dần hình thành rõ nét. ta biết rằng ông Quản Lan, ông Cửu Vị (thân sinh ông Chánh Thẩm) là người quê Tam Kỳ đã biểu diễn thao phong cách tuồng Đàng nước. Ông Thập Quảng, thân sinh ông Đội Tảo, quê Điện Bàn nhưng lên hoạt động nghệ thuật ở Bàn Toa (trước thuộc Duy Xuyên nay thuộc Đại Lộc) tất nhiên là thuộc dòng Đàng nước. Trước các vị vừa kể còn có hai nghệ sĩ nổi tiếng là ông Nhun Đa ở Quế Sơn thuộc tuồng Đàng bộ và ông Nhun Nguyên ở Điện Bàn thuộc tuồng Đàng nước lại rất thân nhau, thường diễn chung với nhau. Khi hai vị ra diễn chầu ở Huế, được vua Thành Thái rất khen và khẩu phong ông Nhun Đa ở “thế thượng vô song” và ông Nhun Nguyên là “nhân gian đệ nhất”. Thành Thái rất am hiểu nghệ thuật, đánh trống chiến rất sắc sảo, từng tự hào mình là người đánh trống, điều khiển dàn nhạc tuồng hay nhất (Trong dàn nhạc tuồng trống chiến là nhạc cụ đóng vai trò chỉ đạo như người nhạc trưởng vậy). Tất nhiên vị vua nghệ thuật này đã từng xem bao nghệ sĩ tài danh về kinh đô diễn, vậy mà ông ta khen hai nghệ sĩ Quảng Nam này bằng hai danh hiệu cao quý như thế thì nhất định là hai nghệ sĩ này có thực tài lỗi lạc.

~~0~~

Năm 1912 cụ Nguyễn Hiển Dĩnh xin về hưu non ở tuổi 53 sau gần 30 năm đi làm quan và ngày càng hiểu rõ nỗi đau đời, càng chán chường với con đường quan lại bù nhìn.

Câu đối cụ treo trước nhà khi về hưu có nội dung tự phê phán mình, đồng thời cũng là ném cái nhìn khái quát về đội ngũ quan trường lúc ấy.

“Gần 30 năm từ phủ, huyện đến tỉnh đường, theo đòi về Bộ ít lâu, gẫm lại có gì đâu, thói yêu ma quỉ quái kiêu nhân, mặt mày bơm bãi”
(Trích vế đầu)

Vừa về hưu thì xây dựng trường hát ngay ở quê mình, làng An Quán (nay thuộc Điện Phương), tập trung các nghệ sĩ, lại sinh trưởng ở đất tuồng Quảng Nam, nên từ tuổi trẻ đã yêu nghệ thuật này, đã biết hát ít nhiều rồi. Chẳng thế mà khi làm tri huyện Hà Đông (Tam Kỳ), hàng ngày buổi sáng ra công trường, ông cho lính lệ sắp hàng hai bên, ông ngồi vào ghế giữa hát khách một câu, rồi nói lối xưng danh:

“Quyền tri huyện Hà Đông
Ngã danh xưng Hiển Dĩnh”


Sau đó mới chính thức làm việc hành chính.

Hành động trên của ông lúc đầu làm cho người ta ngạc nhiên, buồn cười, nhưng sau lại thấy vui, bảo nhau đây là ông quan đặc biệt.

Phải chăng, mới qua mấy năm làm quan, ông đã cảm thấy, tuy chưa thực sâu sắc, rằng làm quan thời ông chẳng qua cũng như vua quan Hát Bội. Về sau khi đã khá thấm thía cuộc đời làm quan dưới triều đình nhà Nguyễn mạt thời, ông viết một câu cay đắng hơn.

“Bị gậy ăn mày, võng lọng quan”

Quan cũng là ăn mày, ăn xin thực dân Pháp, ví như chúng ta biết từ năm 1898, triều đình Huế không còn ngân khố hoàng gia, hàng năm được toàn quyền Đông Dương cấp phát ngân sách, trong đó có lương của vua và quan lại các cấp.

Càng chán chốn quan trường, bất mãn với thuộc, tuy vậy vẫn lại phải tiếp tục ở chốn quan trường, Nguyễn Hiển Dĩnh càng thiết tha với nghệ thuật, đến đâu ông cũng quan hệ giao du với nghệ sĩ hát bội. Ở Quảng Ngãi, ở Thanh Hóa, rồi Quảng Trị. Riêng khi làm tuần vũ Quảng Trị, ông sử dụng biên chế lính lệ và lính khố lục để thành lập một đoàn tuồng, đồng thời cho lấy gỗ để xây dựng một trường hát. Triều đình Huế đã hạch tội ông về việc trên và giáng hai cấp quan, buộc về Huế làm thị lang Bộ Lễ. Đối với ông, đây là dịp tốt để ông quan hệ giao lưu mật thiết với các nghệ sĩ tài hoa ở thự Thanh Bình vốn là cơ quan trực thuộc Bộ Lễ. Ông xem họ diễn, họ hát, họ dạy cho lớp đồng ấu, trau dồi với họ về tuồng tích, về diễn xuất để bồi dưỡng thêm tri thức nghệ thuật của mình.

Sau mấy năm, được phục chức và vào làm Tuần vũ Khánh Hòa, ngay lúc mới đến ông đã tỏ ý “cứng đầu” với tên công sứ Pháp ở tỉnh này, cũng như khi ở Quảng Trị ông cũng rất “cứng đầu” với tên công sứ Pháp ở tỉnh đó, đã từng nổi cơn lôi đình với nhau khi tên công sứ này buộc ông làm án một người mà ông cho là vô tội.

Ở Khánh Hòa, ông lại kiên quyết không ký vào một văn bản do tòa công sứ quyết định tăng một số ngạch thuế gián thu tại một buổi hiệp thương định kỳ (2). Tên công sứ nổi nóng, to tiếng với ông, ông quát lại, tên công sứ đưa tay vớ cây ba toong, ông đứng dậy xách ghế lên tay. Quan viên chức hai bên đứng ra can, đưa ông lên xe về tỉnh đường (3).

Sau vụ này, được biết tòa Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế có văn bản khiển trách tên công sứ ấy, nhưng Bộ Lại lại có văn thư khuyên ông Dĩnh đến xin lỗi tên công xứ cho mối quan hệ được em thắm. Được văn thư trên, thay vì một tờ trình kể qua công tích của mình và nêu lý do xin về hưu. Ông Dĩnh chỉ gởi về Bộ Lại một lá đơn vỏn vẹn gồm có 8 chữ “Tùng sự du cữu, thính hứa hồi hưu” (Làm việc đã vậy xin cho về hưu). Bộ Lại, thay mặt cho triều đình, thay vì một văn bản có nội dung ủy lạo, khen công lao và thường là quyết định thăng một tước phẩm để cho về hưu, đã phúc đáp một văn bản gồm 5 chữ “giới nguyên hàm hồ quân” (Giữ hàm cũ về quê).

Kể hơi dài dòng về một số sự kiện lịch sử về ông Dĩnh để chứng tỏ rằng ông là người thẳng thắn, hơi ngang đối với cấp trên, có tư tưởng chống Pháp thương dân, rất yêu nghệ thuật Hát Bội. Vì thương dân nên nói chung ông là một vị quan liêm khiết. Chẳng thế mà khi về hưu chỉ có một nhà xây trên vườn rộng ở quê nhà và 3 mẫu đất không biết mua lúc nào ở Quảng Huế. Trong quá trình nghĩ hưu và xây dựng gánh hát An Quán, ông lại đã bán thục số ruộng đất nói trên. Do đó, về sau nghệ sĩ Nguyễn Lai, cháu gọi ông là bác ruột, cùng với nhà văn Tống Phước Phổ, cháu gọi ông bằng ông bên ngoại, mới tìm lại giấy tờ, tiếp tục đoạn mãi số ruộng này, lấy tiền thành lập gánh hát Tân Thành Ban. Như thế chúng ta cũng đã mô tả gọn tính cách Nguyễn Hiển Dĩnh.

Với tính cách ấy, tâm hồn ấy, Nguyễn Hiển Dĩnh đã làm nên một nghệ thuật lớn hơn gấp trăm lần, ngàn lần so với sự nghiệp hành chính của ông.

--------------------
(1)Làng Đức Giáo không có đất cắm dùi, lấy xướng ca làm nghề sinh sống.
(2)Lúc ấy mỗi tháng tổng đốc hay tuần vũ đến họp với cộng sự Pháp một lần để thông báo cho nhau về cộng tác mỗi bên và thỏa thuận những công tác sắp đến. Có khi cả hai bên cần ký chung một văn bản nào đó để thi hành. Cuộc họp này gọi là “hiệp thương”, gần như một buổi họp giao ban như ta gọi ngày nay.
(3)Tòa công sứ đóng ở Nha Trang. Tỉnh đường Khánh Hòa đóng ở huyện Diên Khánh

ĐIỆU HÒ KHOAN ĐẠI LỘC

ĐIỆU HÒ KHOAN ĐẠI LỘC

Đêm hò khoan năm xưa
Mùa đông năm 1943 cha tôi từ trần. Vì buồn và lo mọi việc sau lễ tang, mẹ tôi không còn thiết chi tới việc mua bán nên vườn cau của nhà tôi đã quá lứa bẻ buồng nhưng vẫn còn nguyên.
 Bác Ảnh, bạn thân của cha tôi khuyên mẹ tôi thuê thợ bẻ cau, bác sẽ lo giúp chuyện róc, bửa, sấy cau và kêu người đến mua trọn gói cau khô. Mẹ tôi làm theo lời bác. Cau buồng bẻ xong, chiều hôm ấy bác Ảnh sang bảo mẹ tôi mượn thêm nhiều dao róc, dao bửa cau, bàn siết và nấu một nồi chè nếp lớn. Bác nói sẽ có mấy “tay” hát hò khoan và do đó nhiều bà con trong xóm sẽ đến vừa làm việc giúp, vừa nghe hát.
Dịp này lại có cô Lụa người Duy Xuyên lên làng tôi có công việc, mẹ tôi mời cô đến tham gia. Cô Lụa nổi tiếng hát hò khoan rất hay, có giọng thiên phú. Sở trường của cô là hát kiến tại, tức là ứng khẩu hát ngang, đối đáp ngay những sự kiện, tình huống xảy ra tại chỗ chứ không có chuẩn bị trước. Hò khoan đạt đến đẳng cấp này rất hiếm.
Bà con tới giúp mẹ tôi khá đông. Họ cũng sẽ là những người hò tiếp âm cho các nghệ nhân. Phía nghệ nhân hò khoan có ba người hát hay tại địa phương là bác Ảnh, chú Tiết, cô Phối; khách là cô Lụa. Khi công việc bắt đầu cũng là lúc hò khoan khởi sự. Bác Ảnh kiến tại ngay một bài chào chung. Bác lắp tên mọi người có mặt trong từng câu hát, mỗi người một tính cách riêng, ai nghe cũng thích thú. Chú Tiết “chơi” một bài soạn sẵn theo nội dung tuồng “Tống tửu Đơn Hùng Tín”. Cả hai giọng nam đều rất hấp dẫn.
Hát xong, chú Tiết phân vai cho ba người. Chú thủ vai tướng Mã Viện của nhà Hán, cô Lụa vai bà Trưng Trắc, cô Phối vai bà Trưng Nhị của ta. Cũng là hát kiến tại. Vì đến ba nhân vật và đối đáp qua lại nhiều lần nên tôi không nhớ được câu nào, chỉ nhớ nội dung Mã Viện tự xưng là tướng nhà trời, hai bà chỉ là nữ nhi chân yếu tay mềm, hắn khuyên hai bà nên... đầu hàng để giữ an tánh mạng. Còn hai bà thì thay nhau mắng tên xâm lược, tỏ rõ chí khí bất khuất của dân Nam, của phụ nữ nước Nam “giặc tới nhà đàn bà cũng đánh” và đánh tới cùng!
Ba người khái quát lịch sử rất đúng, rất hay, lại toàn là ứng khẩu. Tất cả bà con nhất loạt... bỏ dao xuống để vỗ tay hoan hô. Đến phần kiến tại đối đáp tay đôi của hai nghệ nhân “đinh” là bác Ảnh và cô Lụa. Hai người nhìn nhau cười như ngầm bảo nhau: ráng mà đỡ nhé!
Bác Ảnh hát trước:
Ớ... ớ khoan hố hợi là hò khoan... 
Xin chào người ở đất Duy Xuyên
lên chơi Trung Phước hữu duyên chăng là
hữu duyên thì hãy kết cùng qua
(chứ) ông Tơ với bà Nguyện vốn là chỗ quen
(như qua đây) có trăng lại có thêm đèn (*)
đời ta thêm sáng họ khen em nhiều
tánh qua chỉ thích lụa điều
ảnh qua (mà) bọc lụa mỹ miều... Lụa ơi!
Hố khoan hố hợi...”.
Cô Lụa hát đáp ngay:
Khoan ớ khoan... 
Quen miền Trung Phước em lên chơi
non xanh nước biếc (lại) lắm người tài ba
Anh về kiểm lại trong nhà
mấy trai mấy gái (thêm) một bà uy nghi
miệng thế gian lắm tiếng thị phi
hai tay bắt cá thường khi (bị) té nhào
róc cau lo róc nhiều vào
lụa điều chỉ bọc ảnh nào... độc thân... 
Hố khoan hố hợi là hò khoan...”.
Hai người được bà con vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.
Vừa róc cau vừa say sưa nghe hát, tôi hết sức thán phục vì nghe nói rằng mấy ông thi sĩ làm bài thơ phải có giấy bút, phải nháp, xóa, sửa đi sửa lại, đằng này bốn vị hát hò khoan kiến tại là hát ngay, không chuẩn bị gì cả. Quá giỏi!
Sáng hôm sau tôi đến nhà bác Ảnh xin bác đọc cho tôi chép lại đoạn của bác đã hát với cô Lụa đêm rồi. Bác nói:kiến tại cao hơn bắt quờ một cấp nhưng cũng đều là hát qua chơi rồi bỏ, con chép lại làm chi? Nhưng vì do tôi năn nỉ quá, bác cố nhớ lại từng câu và đọc cho tôi chép. Rồi tôi cũng làm như thế với cô Lụa.
Chỉ ba đêm hò khoan, số cau khá nhiều của nhà tôi được róc, bửa xong cả và đang sấy khô. Mẹ tôi và bốn nghệ nhân hò khoan tuyệt kỹ năm xưa đều đã ra người thiên cổ. Chẳng biết ngày nay ở quê nhà có được những nghệ nhân hò khoan tài hoa như vậy không?
------------
(*) Bác Ảnh không giấu chuyện đã có vợ.

Tường Linh 

BIỂU TÌNH LỊCH SỬ Ở ĐẠI LỘC

BIỂU TÌNH LỊCH SỬ Ở ĐẠI LỘC


100 năm trước, người dân Quảng Nam đã tổ chức một cuộc biểu tình “long trời lở đất”, bắt đầu từ một làng quê ở miền tây huyện Đại Lộc, nơi mà người Pháp vẫn thường gọi là “le nhaque” (xứ nhà quê).

Chuyện bắt đầu từ một đám giỗ ở làng Phiếm Ái, huyện Đại Lộc (nay thuộc xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) vào khoảng tháng 2-1908. Trong đám giỗ có bàn chuyện sưu cao thuế nặng nên mọi người bèn rủ nhau làm đơn lấy chữ ký của các làng xã gửi lên Tỉnh đường Quảng Nam ở La Qua (Điện Bàn) và Tòa Công sứ Pháp ở Hội An để xin giảm sưu. Chưa ký xong đơn và gửi đi thì đã có người lên báo quan huyện. Huyện sợ quá, chạy xuống báo tỉnh. Dân nghe thế, sợ quan không hiểu hết đầu đuôi, lại thành vạ nên kéo nhau xuống tỉnh và tòa để bẩm báo cho rõ.
 Dọc đường xuống tỉnh, người ở hai bên đường nghe nói đi xin giảm sưu thuế nên ai cũng nức lòng xin theo. Từ đó, trở thành một cuộc biểu tình lớn. Tỉnh và Tòa Công sứ không giải quyết nguyện vọng chính đáng của dân mà lại đàn áp phong trào, đày những đại diện của đoàn biểu tình đi Lao Bảo vì thế cuộc biểu tình biến thành cuộc bao vây Tòa Công sứ. Khi Tòa Công sứ ở Hội An đã quá đông không còn chỗ, thì mệnh lệnh được truyền ra là huyện nào về vây huyện nấy. Thế là dân các phủ Điện Bàn, Tam Kỳ, Thăng Bình, huyện Hòa Vang… đã kéo đến vây các phủ, huyện, với lời yêu cầu “xin quan phủ, huyện cùng dân đi xin xâu”.
Tại Tam Kỳ, đoàn biểu tình, do Trần Thuyết (Trùm Thuyết) dẫn đầu dân 7 tổng vây kín phủ đường, đòi Đề đốc Trần Tuệ phải xuất hiện. Tuệ là một tên tay sai bán nước, được thực dân Pháp cho trông coi việc đắp đường sá, thường đánh đập, áp bức dân. Trước khí thế hừng hực của dân, y từ Tòa Đại lý chạy trốn qua phủ đường, cách nhau khoảng 3 cây số. Trước phủ đường, Trùm Thuyết kêu to: “Dân ta xin quan Đại lý giao ông Đề đốc để dân ăn gan!”. Dân 7 tổng đồng thanh hô vang “Dạ!”. Đề Tuệ ngồi trong xe, hộc máu gục xuống, về đến Tòa Đại lý thì tắt thở.
Tại Hòa Vang, Ông Ích Ðường (cháu nội Ông Ích Khiêm) chỉ huy dân chúng vây Lãnh Điềm, dẫn dân điệu viên tri phủ Điện Bàn xuống Tòa Công sứ Hội An xin giảm sưu thuế. Thực dân Pháp đàn áp dã man cuộc biểu tình, cái chết của Trùm Thuyết và Ông Ích Đường đã đi vào thơ ca dân gian: “Cậu Ðường mười tám tuổi đầu/ Dẫn dân công ích xin xâu dưới tòa/ Bắt anh Trùm Thuyết dẫn ra/ Dẫn ra dân tưởng quan tha cho về/ Chém anh Trùm Thuyết gớm ghê/ Gươm đao âm phủ ba bốn bề cách xa”.
 Cuộc biểu tình kháng sưu thuế ở Quảng Nam đã lan ra khắp Trung Kỳ, từ Khánh Hòa đến Thanh Hóa. Ở Hà Tĩnh, Nguyễn Hàng Chi, người dẫn đầu phong trào chống thuế nơi này đã ca ngợi: “Đáng kính thay dân Quảng Nam!/ Đáng học thay dân Quảng Nam!/ Lòng họ chuyên nhất như thế/ Chí họ kiên quyết nhẫn nại đến thế/ Hành động họ sáng tỏ là thế…”.
 Đây là cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử đấu tranh của Việt Nam, có sức lan tỏa rất lớn, có tỷ lệ người dân tham gia đông nhất vào thời đó. Nội cuộc biểu tình ngày 22-3 của dân Điện Bàn, theo Nguyễn Văn Xuân trong “Phong trào Duy Tân” và Lâm Quang Thự trong “Đất Quảng trong thơ ca”, đã lên đến 8.000 người.
Nếu tính những người tham gia vây Tòa Công sứ Pháp ở Hội An (thay phiên nhau để vây) và các cuộc biểu tình bao vây các phủ, huyện thì con số có thể lên đến vài ba chục ngàn, chiếm hơn 10% dân số cả tỉnh. Nên nhớ năm 1908 dân số nước ta chỉ độ dưới 14 triệu người và dân số Quảng Nam chưa đầy 300.000 người.
Đây cũng là cuộc biểu tình gắn liền giữa đấu tranh chính trị (đòi giảm sưu thuế) và giải quyết dân sinh (người tham gia biểu tình phải cắt tóc ngắn, thực hiện nếp sống mới). 100 năm sau, trên thế giới có cuộc biểu tình đấu tranh chính trị nào lại có sự kết hợp hài hòa hai mục tiêu như vậy, dù đó là ở quốc gia được xem là có trình độ dân trí rất cao như Mỹ, Pháp…
Sau cuộc biểu tình, thân sĩ của Quảng Nam lần lượt lên đoạn đầu đài như Trần Quý Cáp, Ông Ích Đường, Trần Thuyết, Tú Cang... Một số bị đày đi Lao Bảo như Trương Hoành, Hứa Tạo, Lương Chấn... hay bị đày ra Côn Đảo như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh...
Để có được độc lập, dân quyền, những người con ưu tú của Quảng Nam xưa đã sẵn sàng chết dưới lưỡi gươm bạo tàn hoặc chấp nhận đoàn viên với nhau giữa rừng thiêng nước độc Lao Bảo hay sóng nước trùng khơi Côn Lôn.
LÊ BÌNH TRỊ

GIÓ QUA TRIỀN CÁT

GIÓ QUA TRIỀN CÁT


“Anh về trong câu hát xưa
Nghe mẹ kể chuyện buồn cổ tích
Mưa giăng giăng đêm dài tĩnh mịch
Năm tháng mòn lời ru trẻ thơ...”. 
Mở đầu tập thơ “Gió qua triền cát”, Lê Văn Ri trải lòng mình bằng bài thơ viết về quê hương Đại Lộc dấu yêu. Quê hương có cánh cò, lời mẹ ru con, có dòng nước Vu Gia xanh mát, có bãi cát bỏng chân khát khao những ước mơ, có nắng vàng rực rỡ nương dâu nà bãi, có vị ngọt loòng boong trong huyền tích của quê nhà... Không có sự chiêm nghiệm triết lý nhân gian, thơ của “gã trí thức nông dân” Lê Văn Ri là những rung cảm thuần hậu về mẹ, về quê hương yêu dấu và những đồng cảm, sẻ chia với biết bao thân phận anh đã từng gặp trong cuộc đời này.
Trong số 53 bài thơ trong “Gió qua triền cát”, tập thơ đầu tay của Lê Văn Ri, hình ảnh người mẹ và quê hương chiếm “dung lượng” khá lớn. Những cảm xúc dâng trào, mãnh liệt nhưng cũng chứa chan nỗi niềm. Ngày những đứa con ở làng quê nhọc nhằn vào đại học, mơ ước công danh sự nghiệp cũng chính là ngày mà “ông trạng, ông nghè” bắt đầu chuỗi ngày sống xa quê. Người con ấy ra đi mang theo lời mẹ dặn “No chữ rồi không thể đói đâu con”, để lại phía quê nhà người mẹ sớm hôm đi về với bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Với niềm tâm tưởng ấy, những bài “Ký ức vọng về”, “Chiều quê”, “Viếng mộ mẹ”... gây xúc động lòng người. “Sống thời lai láng nồng say
Chết thời tính tháng, kể ngày khổ đau
Mẹ ơi! Đã chẵn trăm ngày
Khói hương quặn thắt/ sum vầy còn đâu?” 
(Viếng mộ mẹ).
 Đấy chính là lời tự vấn đầy dằn vặt. Viết về mẹ, Lê Văn Ri có những câu lục bát thổn thức: 
“Khói rơm rạ gọi gió đồng
Bâng khuâng một nỗi hư không tôi về”
 (Chiều quê).
Mảng thơ viết về quê hương,  tác giả “Gió qua triền cát” lại bật lên một nỗi niềm thật thà chân chất đến mức đáng yêu: “Mơ đi xa để được nhớ quê nhà”! Những câu thơ “lập tứ” như thế đã ít nhiều neo đậu nơi người đọc. Dĩ nhiên, viết về quê hương rất dễ vướng những hình ảnh quen thuộc như nương dâu bãi mía, dòng sông con đò, cây đa giếng nước. Nhưng thật may mắn, trong “Gió qua triền cát”, ngoài những “sáo mòn lối cũ” lại có những câu thơ mang hơi thở và cảm nhận riêng: 
“Tuổi thơ ở quê
ngập tràn nỗi nhớ
năm tháng dại khờ
khát vọng phồn hoa
Giờ ở phố xa
 nhớ quê da diết
bao người không biết
nẻo quê mà về!”
 (Hương quê).
Cứ thế, Lê Văn Ri đã thả nỗi nhớ vào thơ với những rung cảm bàng bạc về tình quê yêu dấu của người con lâu ngày vắng xa, với “Thăm quê ngoại”, “Quê tôi”, “Chiều sông Thu”, “Tiếng quê”, “Nói với dòng sông”. Khép lại tập thơ, chợt nghe réo rắt đâu đó cơn gió yêu thương gọi ta về bên mái nhà xưa…
LÊ PHƯỚC LAN NHI

NHỚ QUÊ

NHỚ QUÊ
=Bùi Đình Nhâm=
Chiều nay ta xa nhà bao lâu rồi nhỉ?
Xa quê hương lên lãng mạn với rừng
Nhớ diết da Đại Lộc ơi ta từ giã
Để chiều nay ta lại nhớ lại thương

Ta nhớ nước Vu Gia ngày nắng xế
Khói lam chiều mắt lạc bến mờ xa
Trăng lên cao buốt hai vai sương xuống
Dáng em ngồi giặt áo phía bên kia

Đây Núi Lở hay tình ta đã lỡ
Tội tình chi, ngọn cỏ cũng cô đơn
Ta còn nợ em ngày chia tay nơi Giao Thủy
Ngàn dâu xanh lọc sắc nắng Thu Bồn

Ôi, Ái Nghĩa chẳng bao giờ vơi nhớ
Bước chân ai khe khẽ bên mình
Chút hồn quê giờ đây còn thỏ thẻ:
Anh bao giờ trở lại với quê hương?

Ta sẽ về tìm lại ta nơi phương ấy
Để ta về tuổi thơ dại ngày xưa
Để ta về vùi đầu vào lòng mẹ
Nghe tiếng ru xưa mà ấm lại cõi lòng ...

THƯƠNG VỀ ĐẠI LỘC

THƯƠNG VỀ ĐẠI LỘC
=Tân Văn=

Ai về Đại Lộc hôm nay
Xin cho tôi gởi vòng tay ân tình
Nhớ cầu Ái Nghĩa xinh xinh
Bắc cho bao mối duyên tình nên thơ
Nhớ Khe Tân, nhớ Suối Mơ
Bằng Am, Đại Lãnh, Suối Thơ, Đá Bàn
Chuối tiêu, bánh tráng Đại An
Thái Sơn suối nóng, ấm lòng người thơ
Nhớ đồi Núi Lỡ mộng mơ
Xoài, thơm, mít, ổi thơm tho ngọt ngào
Bòn bon tuyệt diệu biết bao
Sim tươi mới hái núi cao mang về
Nhớ đêm dưới bóng trăng thề
Nhớ mùa phượng vĩ não nề tiếng ve
Nhớ em Đại Lộc rụt rè
Nghiêng nghiêng nón lá trưa hè đợi anh
Tình ai Giao Thủy, Thu Bồn
Nghĩa ai Đại Nghĩa, Trường Sơn ngút ngàn
Tiếng ai ngọt tợ đường non
Mặt ai tươi sáng trăng tròn Trung Thu
Xa xôi xin gởi đôi lời
Quê hương gắn bó suốt đời trong tim


CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH

CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH


THIÊN THẦN

BÌNH YÊN SAU BÃO