NGUYỄN VĂN NAM

  • Dấu chân qua vùng thơ ấu

    Mai em nhé! Anh đưa em về Quảng Gặp tuổi thơ đã mù xa năm tháng Uống giọt sương khi bình minh ló rạng Ai chợt gọi tên mình: Răng đi dữ rứa mi...!

  • Nửa đời nhặt bụi trần gian

    Mười năm, sau nữa...trò ơi ! Mười năm rũ bỏ rong chơi bến bờ... Thả hồn gọi mãi tuổi thơ Nhìn viên phấn trắng bạc phơ mái đầu

  • Quê hương mãi chốn đi về

    Ta về tìm nhặt ấu thơ Giữa đồng rơm rạ sương mờ dần sang Ta về tìm giữa mênh mang Bóng ai như thể bóng làng xa xa...

  • Một lần nợ cả mai sau...

    Người đem thế giới ngâm vào rượu. Ta lấy càn khôn nướng thế mồi

BIỂU TÌNH LỊCH SỬ Ở ĐẠI LỘC

BIỂU TÌNH LỊCH SỬ Ở ĐẠI LỘC


100 năm trước, người dân Quảng Nam đã tổ chức một cuộc biểu tình “long trời lở đất”, bắt đầu từ một làng quê ở miền tây huyện Đại Lộc, nơi mà người Pháp vẫn thường gọi là “le nhaque” (xứ nhà quê).

Chuyện bắt đầu từ một đám giỗ ở làng Phiếm Ái, huyện Đại Lộc (nay thuộc xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) vào khoảng tháng 2-1908. Trong đám giỗ có bàn chuyện sưu cao thuế nặng nên mọi người bèn rủ nhau làm đơn lấy chữ ký của các làng xã gửi lên Tỉnh đường Quảng Nam ở La Qua (Điện Bàn) và Tòa Công sứ Pháp ở Hội An để xin giảm sưu. Chưa ký xong đơn và gửi đi thì đã có người lên báo quan huyện. Huyện sợ quá, chạy xuống báo tỉnh. Dân nghe thế, sợ quan không hiểu hết đầu đuôi, lại thành vạ nên kéo nhau xuống tỉnh và tòa để bẩm báo cho rõ.
 Dọc đường xuống tỉnh, người ở hai bên đường nghe nói đi xin giảm sưu thuế nên ai cũng nức lòng xin theo. Từ đó, trở thành một cuộc biểu tình lớn. Tỉnh và Tòa Công sứ không giải quyết nguyện vọng chính đáng của dân mà lại đàn áp phong trào, đày những đại diện của đoàn biểu tình đi Lao Bảo vì thế cuộc biểu tình biến thành cuộc bao vây Tòa Công sứ. Khi Tòa Công sứ ở Hội An đã quá đông không còn chỗ, thì mệnh lệnh được truyền ra là huyện nào về vây huyện nấy. Thế là dân các phủ Điện Bàn, Tam Kỳ, Thăng Bình, huyện Hòa Vang… đã kéo đến vây các phủ, huyện, với lời yêu cầu “xin quan phủ, huyện cùng dân đi xin xâu”.
Tại Tam Kỳ, đoàn biểu tình, do Trần Thuyết (Trùm Thuyết) dẫn đầu dân 7 tổng vây kín phủ đường, đòi Đề đốc Trần Tuệ phải xuất hiện. Tuệ là một tên tay sai bán nước, được thực dân Pháp cho trông coi việc đắp đường sá, thường đánh đập, áp bức dân. Trước khí thế hừng hực của dân, y từ Tòa Đại lý chạy trốn qua phủ đường, cách nhau khoảng 3 cây số. Trước phủ đường, Trùm Thuyết kêu to: “Dân ta xin quan Đại lý giao ông Đề đốc để dân ăn gan!”. Dân 7 tổng đồng thanh hô vang “Dạ!”. Đề Tuệ ngồi trong xe, hộc máu gục xuống, về đến Tòa Đại lý thì tắt thở.
Tại Hòa Vang, Ông Ích Ðường (cháu nội Ông Ích Khiêm) chỉ huy dân chúng vây Lãnh Điềm, dẫn dân điệu viên tri phủ Điện Bàn xuống Tòa Công sứ Hội An xin giảm sưu thuế. Thực dân Pháp đàn áp dã man cuộc biểu tình, cái chết của Trùm Thuyết và Ông Ích Đường đã đi vào thơ ca dân gian: “Cậu Ðường mười tám tuổi đầu/ Dẫn dân công ích xin xâu dưới tòa/ Bắt anh Trùm Thuyết dẫn ra/ Dẫn ra dân tưởng quan tha cho về/ Chém anh Trùm Thuyết gớm ghê/ Gươm đao âm phủ ba bốn bề cách xa”.
 Cuộc biểu tình kháng sưu thuế ở Quảng Nam đã lan ra khắp Trung Kỳ, từ Khánh Hòa đến Thanh Hóa. Ở Hà Tĩnh, Nguyễn Hàng Chi, người dẫn đầu phong trào chống thuế nơi này đã ca ngợi: “Đáng kính thay dân Quảng Nam!/ Đáng học thay dân Quảng Nam!/ Lòng họ chuyên nhất như thế/ Chí họ kiên quyết nhẫn nại đến thế/ Hành động họ sáng tỏ là thế…”.
 Đây là cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử đấu tranh của Việt Nam, có sức lan tỏa rất lớn, có tỷ lệ người dân tham gia đông nhất vào thời đó. Nội cuộc biểu tình ngày 22-3 của dân Điện Bàn, theo Nguyễn Văn Xuân trong “Phong trào Duy Tân” và Lâm Quang Thự trong “Đất Quảng trong thơ ca”, đã lên đến 8.000 người.
Nếu tính những người tham gia vây Tòa Công sứ Pháp ở Hội An (thay phiên nhau để vây) và các cuộc biểu tình bao vây các phủ, huyện thì con số có thể lên đến vài ba chục ngàn, chiếm hơn 10% dân số cả tỉnh. Nên nhớ năm 1908 dân số nước ta chỉ độ dưới 14 triệu người và dân số Quảng Nam chưa đầy 300.000 người.
Đây cũng là cuộc biểu tình gắn liền giữa đấu tranh chính trị (đòi giảm sưu thuế) và giải quyết dân sinh (người tham gia biểu tình phải cắt tóc ngắn, thực hiện nếp sống mới). 100 năm sau, trên thế giới có cuộc biểu tình đấu tranh chính trị nào lại có sự kết hợp hài hòa hai mục tiêu như vậy, dù đó là ở quốc gia được xem là có trình độ dân trí rất cao như Mỹ, Pháp…
Sau cuộc biểu tình, thân sĩ của Quảng Nam lần lượt lên đoạn đầu đài như Trần Quý Cáp, Ông Ích Đường, Trần Thuyết, Tú Cang... Một số bị đày đi Lao Bảo như Trương Hoành, Hứa Tạo, Lương Chấn... hay bị đày ra Côn Đảo như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh...
Để có được độc lập, dân quyền, những người con ưu tú của Quảng Nam xưa đã sẵn sàng chết dưới lưỡi gươm bạo tàn hoặc chấp nhận đoàn viên với nhau giữa rừng thiêng nước độc Lao Bảo hay sóng nước trùng khơi Côn Lôn.
LÊ BÌNH TRỊ

GIÓ QUA TRIỀN CÁT

GIÓ QUA TRIỀN CÁT


“Anh về trong câu hát xưa
Nghe mẹ kể chuyện buồn cổ tích
Mưa giăng giăng đêm dài tĩnh mịch
Năm tháng mòn lời ru trẻ thơ...”. 
Mở đầu tập thơ “Gió qua triền cát”, Lê Văn Ri trải lòng mình bằng bài thơ viết về quê hương Đại Lộc dấu yêu. Quê hương có cánh cò, lời mẹ ru con, có dòng nước Vu Gia xanh mát, có bãi cát bỏng chân khát khao những ước mơ, có nắng vàng rực rỡ nương dâu nà bãi, có vị ngọt loòng boong trong huyền tích của quê nhà... Không có sự chiêm nghiệm triết lý nhân gian, thơ của “gã trí thức nông dân” Lê Văn Ri là những rung cảm thuần hậu về mẹ, về quê hương yêu dấu và những đồng cảm, sẻ chia với biết bao thân phận anh đã từng gặp trong cuộc đời này.
Trong số 53 bài thơ trong “Gió qua triền cát”, tập thơ đầu tay của Lê Văn Ri, hình ảnh người mẹ và quê hương chiếm “dung lượng” khá lớn. Những cảm xúc dâng trào, mãnh liệt nhưng cũng chứa chan nỗi niềm. Ngày những đứa con ở làng quê nhọc nhằn vào đại học, mơ ước công danh sự nghiệp cũng chính là ngày mà “ông trạng, ông nghè” bắt đầu chuỗi ngày sống xa quê. Người con ấy ra đi mang theo lời mẹ dặn “No chữ rồi không thể đói đâu con”, để lại phía quê nhà người mẹ sớm hôm đi về với bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Với niềm tâm tưởng ấy, những bài “Ký ức vọng về”, “Chiều quê”, “Viếng mộ mẹ”... gây xúc động lòng người. “Sống thời lai láng nồng say
Chết thời tính tháng, kể ngày khổ đau
Mẹ ơi! Đã chẵn trăm ngày
Khói hương quặn thắt/ sum vầy còn đâu?” 
(Viếng mộ mẹ).
 Đấy chính là lời tự vấn đầy dằn vặt. Viết về mẹ, Lê Văn Ri có những câu lục bát thổn thức: 
“Khói rơm rạ gọi gió đồng
Bâng khuâng một nỗi hư không tôi về”
 (Chiều quê).
Mảng thơ viết về quê hương,  tác giả “Gió qua triền cát” lại bật lên một nỗi niềm thật thà chân chất đến mức đáng yêu: “Mơ đi xa để được nhớ quê nhà”! Những câu thơ “lập tứ” như thế đã ít nhiều neo đậu nơi người đọc. Dĩ nhiên, viết về quê hương rất dễ vướng những hình ảnh quen thuộc như nương dâu bãi mía, dòng sông con đò, cây đa giếng nước. Nhưng thật may mắn, trong “Gió qua triền cát”, ngoài những “sáo mòn lối cũ” lại có những câu thơ mang hơi thở và cảm nhận riêng: 
“Tuổi thơ ở quê
ngập tràn nỗi nhớ
năm tháng dại khờ
khát vọng phồn hoa
Giờ ở phố xa
 nhớ quê da diết
bao người không biết
nẻo quê mà về!”
 (Hương quê).
Cứ thế, Lê Văn Ri đã thả nỗi nhớ vào thơ với những rung cảm bàng bạc về tình quê yêu dấu của người con lâu ngày vắng xa, với “Thăm quê ngoại”, “Quê tôi”, “Chiều sông Thu”, “Tiếng quê”, “Nói với dòng sông”. Khép lại tập thơ, chợt nghe réo rắt đâu đó cơn gió yêu thương gọi ta về bên mái nhà xưa…
LÊ PHƯỚC LAN NHI

NHỚ QUÊ

NHỚ QUÊ
=Bùi Đình Nhâm=
Chiều nay ta xa nhà bao lâu rồi nhỉ?
Xa quê hương lên lãng mạn với rừng
Nhớ diết da Đại Lộc ơi ta từ giã
Để chiều nay ta lại nhớ lại thương

Ta nhớ nước Vu Gia ngày nắng xế
Khói lam chiều mắt lạc bến mờ xa
Trăng lên cao buốt hai vai sương xuống
Dáng em ngồi giặt áo phía bên kia

Đây Núi Lở hay tình ta đã lỡ
Tội tình chi, ngọn cỏ cũng cô đơn
Ta còn nợ em ngày chia tay nơi Giao Thủy
Ngàn dâu xanh lọc sắc nắng Thu Bồn

Ôi, Ái Nghĩa chẳng bao giờ vơi nhớ
Bước chân ai khe khẽ bên mình
Chút hồn quê giờ đây còn thỏ thẻ:
Anh bao giờ trở lại với quê hương?

Ta sẽ về tìm lại ta nơi phương ấy
Để ta về tuổi thơ dại ngày xưa
Để ta về vùi đầu vào lòng mẹ
Nghe tiếng ru xưa mà ấm lại cõi lòng ...

THƯƠNG VỀ ĐẠI LỘC

THƯƠNG VỀ ĐẠI LỘC
=Tân Văn=

Ai về Đại Lộc hôm nay
Xin cho tôi gởi vòng tay ân tình
Nhớ cầu Ái Nghĩa xinh xinh
Bắc cho bao mối duyên tình nên thơ
Nhớ Khe Tân, nhớ Suối Mơ
Bằng Am, Đại Lãnh, Suối Thơ, Đá Bàn
Chuối tiêu, bánh tráng Đại An
Thái Sơn suối nóng, ấm lòng người thơ
Nhớ đồi Núi Lỡ mộng mơ
Xoài, thơm, mít, ổi thơm tho ngọt ngào
Bòn bon tuyệt diệu biết bao
Sim tươi mới hái núi cao mang về
Nhớ đêm dưới bóng trăng thề
Nhớ mùa phượng vĩ não nề tiếng ve
Nhớ em Đại Lộc rụt rè
Nghiêng nghiêng nón lá trưa hè đợi anh
Tình ai Giao Thủy, Thu Bồn
Nghĩa ai Đại Nghĩa, Trường Sơn ngút ngàn
Tiếng ai ngọt tợ đường non
Mặt ai tươi sáng trăng tròn Trung Thu
Xa xôi xin gởi đôi lời
Quê hương gắn bó suốt đời trong tim


CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH

CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH


THIÊN THẦN

BÌNH YÊN SAU BÃO

NHỮNG NÉT VẼ CONG

XA RỒI THIẾU NỮ

NHỮNG NGÀY XA

ĐA MANG

TỰU TRƯỜNG

MÙA YÊU DẤU

BẤT CHỢT THU SANG

GẶP LẠI THU XƯA

VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ

VỀ HUẾ TÌM EM

*LỜI NGUYỀN CHÙA THIÊN MỤ: Chuyện kể rằng, khi chúa Nguyễn vẫn còn cai trị vùng Đàng Trong, và tình yêu đôi lứa vẫn còn nằm trong sự sắp đặt của cha mẹ, có cô gái con nhà quan danh giá, xinh đẹp đem lòng yêu một chàng trai mồ côi, lại nghèo khó. Mối tình vụng trộm của họ như con thuyền trắc trở không bến đỗ vì bị gia đình nhà gái ngăn cấm quyết liệt. Quá đau khổ, đôi trai gái cùng nhau ra sông Hương tự vẫn, vì những tưởng sống không đến được thì chết sẽ bên nhau mãi mãi. Nhưng trớ trêu thay, khi trái tim chàng trai đã ngừng đập dưới đáy sông Hương sâu thẳm, cô gái lại may mắn dạt vào bờ và được những người địa phương tốt bụng cứu sống. Gia đình cô gái tìm về, ép nàng lấy một vị quan nhất phẩm trong triều mà họ đã nhắm từ trước. Thời gian trôi qua, cô gái cũng dần nguôi ngoai nỗi buồn về người yêu cũ, thuận lấy chồng và sống một cuộc đời vinh hoa. Chờ người yêu mỏi mòn không thấy, oan hồn chàng trai uất hận cho số phận bất trắc của mình, bèn lang bạt vào chùa Thiên Mụ ngự trước mặt sông Hương, thề độc sẽ phá những đôi tình nhân đến đây viếng chùa. Có lẽ vì tích đó mà người ta truyền miệng nhau rằng, những ai còn cô đơn đến đây thành tâm cầu nguyện sẽ gặp được người thương, còn nếu có người yêu mà dắt nhau tới chùa, ắt sẽ chia lìa tan tác.

CHIẾC ĐÈN TRUNG THU

(TRUNG THU MÙA BÃO 2013)

RAO ĐÊM

GỞI VỀ NƠI ẤY TRÀ LENG

LẠC BƯỚC

VÀNG BÔNG HOA CẢI

THẰNG BỜM

THƯƠNG NHỚ SÔNG QUÊ

ĐƯA EM VỀ