NGUYỄN VĂN NAM

  • Dấu chân qua vùng thơ ấu

    Mai em nhé! Anh đưa em về Quảng Gặp tuổi thơ đã mù xa năm tháng Uống giọt sương khi bình minh ló rạng Ai chợt gọi tên mình: Răng đi dữ rứa mi...!

  • Nửa đời nhặt bụi trần gian

    Mười năm, sau nữa...trò ơi ! Mười năm rũ bỏ rong chơi bến bờ... Thả hồn gọi mãi tuổi thơ Nhìn viên phấn trắng bạc phơ mái đầu

  • Quê hương mãi chốn đi về

    Ta về tìm nhặt ấu thơ Giữa đồng rơm rạ sương mờ dần sang Ta về tìm giữa mênh mang Bóng ai như thể bóng làng xa xa...

  • Một lần nợ cả mai sau...

    Người đem thế giới ngâm vào rượu. Ta lấy càn khôn nướng thế mồi

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

VUN LẠI NHỮNG MẦM XANH


VUN LẠI NHỮNG MẦM XANH


=Dương Văn Sương=

          Xuân này-2015, cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm ngày Bắc Nam sum họp, gia đình đoàn viên, đất nước nở hoa độc lập. Trong ngày vui này, bao hoài niệm buồn, vui và nỗi nhớ! Đối với Đại Thạnh, trong tâm thức của của bao người quên sao được những ngày gồng gánh, “tay bồng em, cháu dắt bà” từ các khu dồn của địch, về làng xưa, chốn cũ, trước mắt là cảnh không đường, không vườn, không nhà, không bóng cây, nhìn nơi đâu cũng “loan lổ hố bom”, “đạn cày, bom xới”, cây cối tiêu điều, xơ xác bởi đạn pháo, chất độc hóa học, khiến ai cũng phải chạnh lòng:


                                        Buổi đầu ngắm núi nhìn sông
                              Chim không chỗ đậu người không chốn nằm
                              Tầng sâu còn dấu mìn bom
                              Một vùng giải phóng…tối tăm đất trời
                              Nhìn nhau biết tính sao đây?

(trích LỜI NGƯỜI ĐẠI LỘC-Lưu Trọng Lư)



          Nhưng! Không chùn bước. Chi bộ Đảng, chính quyền, cùng Nhân dân bắt tay vào cuộc chiến mới không kém phần cam go và quyết liệt: khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương. Trước hết khẩn trương giúp nhau dựng lều trại để ở, khai thông đường sá, phá gỡ bom mìn, khai hoang đất đai, tổ chức sản xuất, chăm lo cuộc sống của hàng nghìn người dân về lại quê nhà sau bao nhiêu năm ly tán. Công việc chồng lên công việc, song ai nấy đều không tính toán thiệt hơn. Hàng trăm lao động thay phiên nhau vào rừng đốn cây, cắt tranh về làm trường học cho con em kịp bước vào năm học mới; xây dựng trạm y tế sơ cứu, chữa bệnh cho nhân dân; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác “đền ơn đáp nghĩa” được triển khai kịp thời bằng việc xác lập hồ sơ chính sách thương binh, liệt sỹ, người có công giúp đỡ cách mạng; đồng thời tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ từ rừng núi, khe suối… về với dân làng. 



CỔNG LÀNG ĐẠI THẠNH
          Sau bao ngày thấm đẫm mồ hôi vật lộn với ruộng vườn, tình người và đất Đại Thạnh đã đơm hoa, kết trái. Khắp nơi, cây cối, đồng ruộng tốt, khoai sắn đầy nhà. Ai ai cũng tràn ngập niềm vui khi ăn bữa cơm đoàn tụ với khoai, sắn ngọt bùi do chính mình canh tác nơi chôn nhau, cắt rốn! Khi Đảng chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, Nhân dân Đại Thạnh hưởng ứng sôi nổi góp ruộng đất làm tư liệu sản xuất, góp cổ phần bằng tiền mua sắm 16 bộ máy nước, các dụng cụ sản xuất, Đào đắp hàng chục ki lô mét kênh mương dẫn nước từ hệ thống máy nước lắp đặt ở sông Thu Bồn và Khe Cát lên đồng ruộng. Đáng ghi nhận là được sự giúp đỡ của huyện, Đảng bộ, chính quyền và bà con xã viên quyết tâm xây dựng các đập thủy lợi như: đập Hóc Lách tưới cho cánh đồng An Bằng, đập Hố Chình tưới cho cánh đồng Thạnh Phú, Nam Phước…. Đây là giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề nước tưới cho những cánh đồng “treo”,mà quanh năm ngong ngóng “chờ trời”. Mặc dù thiếu thốn trăm bề nhưng bằng nghị lực bền bỉ, những đôi bàn tay chai sạm, bờ vai gầy vẫn hăng say đào đắp hàng nghìn mét khối đất, đá ngăn dòng, tích nước tưới cho cả trăm héc ta đất. Và, sau bao ngày chờ đợi, “hôm nay, nước đã về đồng”. Những vụ mùa trắng tay, bữa ăn hằng ngày “cõng sắn, cõng khoai” lùi vào dĩ vãng. Gần 30 năm trôi qua, ký ức về các công trình thủy lợi ngày nào vẫn còn tươi nguyên nơi tâm thức bao người. Và hôm nay, tuy công trình thủy lợi Khe Tân đã và đang mang lại sự ấm no, giàu có cho cả vùng B Đại Lộc nhưng đập Hóc Lách và đập Hố Chình vẫn là "vị cứu tinh" cho những cánh đồng “bậc cao” của Đại Thạnh, Đại Chánh, Đại Tân. (*)

         
TRƯỜNG THCS LÝTHƯỜNG KIỆT-ĐẠI THẠNH
 Nhớ lại những năm 80 của thế kỷ trước, phong trào thi đua yêu nước ở Đại Thạnh được phát động sâu rộng trong các tầng lớp Nhân dân. Chuyện nhà, chuyện làng, việc nước đều được gắn với các hoạt động thi đua. Đội thiếu niên mang tên Bác “làm nghìn việc tốt” thi đua nỗ lực trong học tập, lao động xây dựng trường lớp, làm phân xanh bón ruộng. Gắn phong trào “toàn dân làm thủy lợi”, Hội Nông dân và Hội Phụ nữ phát động hội viên hăng say lao động nạo vét sông Quảng Huế, đưa nước lên trạm bơm Đại An. Đoàn viên, thanh niên tình nguyện xung kích lên đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngại khó, ngại khổ, những “thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh” trở thành kiện tướng lao động trên đại công trường thủy lợi Phú Ninh. Ở chiến hào bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, nhiều người được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang… Có những người đã anh dũng ngã xuống nơi biên cương vì Độc lập, Tự do của dân tộc. Tất cả sự cống hiến, hy sinh đó ngời sáng mãi tinh yêu quê hương, đất nước. Người ở lại hậu phương, kiên trì bám ruộng đồng, bám phong trào. Có thêm nhiều người từ nơi khác tình nguyện lên giúp xã khai hoang, dạy chữ cho học sinh được Đại Thạnh xem như người một nhà khiến các anh, chị luôn cảm thấy ấm lòng, tăng thêm nghị lực để tiếp tục cống hiến và xem nơi đây như là quê hương thứ hai của mình: 

          “Chưa lên Đại Thạnh thì run 
          Đã lên Đại Thạnh (muốn) ở luôn không về!” 

          Tròn 35 năm gắn bó với nghề, cô giáo Phạm Thị Thiếu Vôn - nguyên Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Nho Túy trải lòng: “Bước chân đầu tiên lên bờ đất Bến Dầu lạ lẫm để vào miền đất Đại Thạnh xa xuôi, cằn cỗi hoang vu đầy cỏ dại. Ngày mới giải phóng, nơi đây quả là khó khăn thiếu thốn dễ làm nản lòng những cô gái trẻ từ thành phố lên. Nhưng với tôi thì không. Đời sống khổ cực của giáo viên bên cạnh dân làng tại đây đã cho tôi thấy được cái đằm thắm của tình người và ý nghĩa của cuộc sống”.
TRƯỜNG MẪU GIÁO ĐẠI THẠNH
         
 Bước vào thời kỳ đổi mới, đặt biệt từ khi Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 06(tháng 5/1989). Nhận thức đây là một chủ trương mang tính đột phá cho phát triển nông nghiệp, Đại Thạnh kịp thời tổ chức giao đất sản xuất cho hộ gia đình, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa. Thời gian sau đó, xã tập trung khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp (4.917ha), tổ chức giao rừng đến nhóm hộ và hộ để khoanh nuôi bảo vệ, trồng rừng. Thực hiện dự án trồng rừng bền vững KFW6; rừng nguyên liệu giấy phủ xanh đất trống, đồi trọc, góp phần cân bằng hệ sinh thái, đồng thời nâng cao mức sống người dân… Cùng với phát triển nông- lâm nghiệp, Đại Thạnh còn tập trung vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp đến địa bàn sản xuất kinh doanh. Điển hình là Công ty may mặc Phú Hòa ở Đà Nẵng xây dựng phân xưởng may mặc ở thôn Tây Lễ, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương; Công ty TNHH xây dựng Hữu Thái đang đầu tư, xây dựng Cụm thương mại dịch vụ Bến Dầu với diện tích 6 ha (theo hồ sơ thiết kế, nơi đây xây mới chợ Bến Dầu đạt chuẩn tiêu chí chợ nông thôn mới, ngoài ra còn các công trình dân sinh, phúc lợi xã hội: Trạm y tế, nhà văn hóa, bến xe, khu vui chơi giải trí cho trẻ em, cùng với đó là khu dân cư mới bố trí theo ô bàn cờ vuông vức, bên những con đường bê tông rộng phẳng, đây sẻ là điểm nhấn trong bước đường xây dựng nông thôn mới từ nay đến năm 2020. 


MÔ HÌNH NUÔI CÁ DIÊU HỒNG TRÊN LÒNG HỒ KHE TÂN
         
TRÀN XẢ LŨ HỒ KHE TÂN
 
Một thời, Đại Thạnh địa hình không khác gì là ốc đảo, tuyến đường bộ gần như độc đạo nắng thì bụi, mưa lầy. Nay, diện mạo làng quê từng ngày “thay da đổi thịt”. Hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi. Bên cạnh nguồn lực Nhà nước đầu tư hai tuyến đường ĐH và hai cây cầu nối liền Đại Thạnh với các xã Đại Thắng, Đại Chánh. Các con đường ĐX của xã được cứng hóa và chạy khắp các thôn cùng, ngõ hẻm bằng nguồn lực huy động từ trong nhân dân, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế- xã hội của Đại Thạnh. 

Đời sống nhân dân luôn được phát triển, trong 5 năm qua hộ nghèo giảm bình quân 4%/ năm, cuối năm 2014 còn 16%. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được đầu tư mạnh mẽ, cơ sở vật chất trường lớp ngày càng khang trang, chất lượng giáo dục được nâng lên đáng kể. Những năm gần đây, xã có hàng trăm học sinh giỏi cấp huyện. Góp sức cùng huyện có 11 học sinh giỏi cấp tỉnh ở bậc trung học cơ sở, 9 em vào trường trung học phổ thông chuyên bắc Quảng Nam. Ba cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đều đạt chuẩn quốc gia.

        
CHIỀU KHE TÂN
Nhìn lại thành quả 40 năm “trồng người”, Đại Thạnh cũng góp phần cho đất nước hàng trăm nhân lực có chất lượng cao vào công cuộc kiến thiết Nước nhà; Đó là: những công nhân lành nghề, kỹ sư, bác sỹ, nhà giáo, nhà văn, nhà khoa học họ có mặt ở mọi miền Tổ quốc. Và bao người... vẫn ngày đêm bền bĩ đúc “viên gạch hồng” xây dựng quê hương. Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân đạt nhiều thành tựu, góp phần nâng cao được thể chất, sức khỏe mọi người. Đời sống kinh tế-xã hội không ngừng được cải thiện, nhà nào cũng có xe máy, phương tiện nghe nhìn, gia đình khá giả hơn đã sắm được ô tô tải, máy gặt đập liên hợp, xe du lịch… Cuộc sống mới đang về mà cứ ngỡ như trong mơ!

          Bốn mươi năm, quãng đường kiến thiết quả không dài đối với Đại Thạnh-quê hương Anh hùng, có bề dày về truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng. Những thành quả mà mảnh đất, con người Đại Thạnh có được là minh chứng sinh động cho lòng yêu nước thiết tha và ý chí, nghị lực hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hương từ đống hoang tàn đổ nát.
Xuân mới, sức sống mới, màu xanh mới tràn đầy niềm tin yêu !
D.V.S
--------------
(*) Nay là xã Đại Thạnh, xã Đại Chánh và 1 phần của xã Đại Tân.

BIỂU TÌNH LỊCH SỬ Ở ĐẠI LỘC

BIỂU TÌNH LỊCH SỬ Ở ĐẠI LỘC


100 năm trước, người dân Quảng Nam đã tổ chức một cuộc biểu tình “long trời lở đất”, bắt đầu từ một làng quê ở miền tây huyện Đại Lộc, nơi mà người Pháp vẫn thường gọi là “le nhaque” (xứ nhà quê).

Chuyện bắt đầu từ một đám giỗ ở làng Phiếm Ái, huyện Đại Lộc (nay thuộc xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) vào khoảng tháng 2-1908. Trong đám giỗ có bàn chuyện sưu cao thuế nặng nên mọi người bèn rủ nhau làm đơn lấy chữ ký của các làng xã gửi lên Tỉnh đường Quảng Nam ở La Qua (Điện Bàn) và Tòa Công sứ Pháp ở Hội An để xin giảm sưu. Chưa ký xong đơn và gửi đi thì đã có người lên báo quan huyện. Huyện sợ quá, chạy xuống báo tỉnh. Dân nghe thế, sợ quan không hiểu hết đầu đuôi, lại thành vạ nên kéo nhau xuống tỉnh và tòa để bẩm báo cho rõ.
 Dọc đường xuống tỉnh, người ở hai bên đường nghe nói đi xin giảm sưu thuế nên ai cũng nức lòng xin theo. Từ đó, trở thành một cuộc biểu tình lớn. Tỉnh và Tòa Công sứ không giải quyết nguyện vọng chính đáng của dân mà lại đàn áp phong trào, đày những đại diện của đoàn biểu tình đi Lao Bảo vì thế cuộc biểu tình biến thành cuộc bao vây Tòa Công sứ. Khi Tòa Công sứ ở Hội An đã quá đông không còn chỗ, thì mệnh lệnh được truyền ra là huyện nào về vây huyện nấy. Thế là dân các phủ Điện Bàn, Tam Kỳ, Thăng Bình, huyện Hòa Vang… đã kéo đến vây các phủ, huyện, với lời yêu cầu “xin quan phủ, huyện cùng dân đi xin xâu”.
Tại Tam Kỳ, đoàn biểu tình, do Trần Thuyết (Trùm Thuyết) dẫn đầu dân 7 tổng vây kín phủ đường, đòi Đề đốc Trần Tuệ phải xuất hiện. Tuệ là một tên tay sai bán nước, được thực dân Pháp cho trông coi việc đắp đường sá, thường đánh đập, áp bức dân. Trước khí thế hừng hực của dân, y từ Tòa Đại lý chạy trốn qua phủ đường, cách nhau khoảng 3 cây số. Trước phủ đường, Trùm Thuyết kêu to: “Dân ta xin quan Đại lý giao ông Đề đốc để dân ăn gan!”. Dân 7 tổng đồng thanh hô vang “Dạ!”. Đề Tuệ ngồi trong xe, hộc máu gục xuống, về đến Tòa Đại lý thì tắt thở.
Tại Hòa Vang, Ông Ích Ðường (cháu nội Ông Ích Khiêm) chỉ huy dân chúng vây Lãnh Điềm, dẫn dân điệu viên tri phủ Điện Bàn xuống Tòa Công sứ Hội An xin giảm sưu thuế. Thực dân Pháp đàn áp dã man cuộc biểu tình, cái chết của Trùm Thuyết và Ông Ích Đường đã đi vào thơ ca dân gian: “Cậu Ðường mười tám tuổi đầu/ Dẫn dân công ích xin xâu dưới tòa/ Bắt anh Trùm Thuyết dẫn ra/ Dẫn ra dân tưởng quan tha cho về/ Chém anh Trùm Thuyết gớm ghê/ Gươm đao âm phủ ba bốn bề cách xa”.
 Cuộc biểu tình kháng sưu thuế ở Quảng Nam đã lan ra khắp Trung Kỳ, từ Khánh Hòa đến Thanh Hóa. Ở Hà Tĩnh, Nguyễn Hàng Chi, người dẫn đầu phong trào chống thuế nơi này đã ca ngợi: “Đáng kính thay dân Quảng Nam!/ Đáng học thay dân Quảng Nam!/ Lòng họ chuyên nhất như thế/ Chí họ kiên quyết nhẫn nại đến thế/ Hành động họ sáng tỏ là thế…”.
 Đây là cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử đấu tranh của Việt Nam, có sức lan tỏa rất lớn, có tỷ lệ người dân tham gia đông nhất vào thời đó. Nội cuộc biểu tình ngày 22-3 của dân Điện Bàn, theo Nguyễn Văn Xuân trong “Phong trào Duy Tân” và Lâm Quang Thự trong “Đất Quảng trong thơ ca”, đã lên đến 8.000 người.
Nếu tính những người tham gia vây Tòa Công sứ Pháp ở Hội An (thay phiên nhau để vây) và các cuộc biểu tình bao vây các phủ, huyện thì con số có thể lên đến vài ba chục ngàn, chiếm hơn 10% dân số cả tỉnh. Nên nhớ năm 1908 dân số nước ta chỉ độ dưới 14 triệu người và dân số Quảng Nam chưa đầy 300.000 người.
Đây cũng là cuộc biểu tình gắn liền giữa đấu tranh chính trị (đòi giảm sưu thuế) và giải quyết dân sinh (người tham gia biểu tình phải cắt tóc ngắn, thực hiện nếp sống mới). 100 năm sau, trên thế giới có cuộc biểu tình đấu tranh chính trị nào lại có sự kết hợp hài hòa hai mục tiêu như vậy, dù đó là ở quốc gia được xem là có trình độ dân trí rất cao như Mỹ, Pháp…
Sau cuộc biểu tình, thân sĩ của Quảng Nam lần lượt lên đoạn đầu đài như Trần Quý Cáp, Ông Ích Đường, Trần Thuyết, Tú Cang... Một số bị đày đi Lao Bảo như Trương Hoành, Hứa Tạo, Lương Chấn... hay bị đày ra Côn Đảo như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh...
Để có được độc lập, dân quyền, những người con ưu tú của Quảng Nam xưa đã sẵn sàng chết dưới lưỡi gươm bạo tàn hoặc chấp nhận đoàn viên với nhau giữa rừng thiêng nước độc Lao Bảo hay sóng nước trùng khơi Côn Lôn.
LÊ BÌNH TRỊ